phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 2 chương, 4 tiết: Chƣơng 1: Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế hiện nay. Chƣơng 2: Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế - Thực trạng và giải pháp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY 1. Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam 1.
Giá trị và giá trị văn hóa tinh thần truyền thống 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa có mặt ở mọi không gian, thời gian, nó xuất hiện và tồn tại cùng với loài người. Văn hóa là khái niệm được sử dụng với nội hàm hết sức phong phú và đa dạng. Mỗi nhà nghiên cứu từ các góc độ chuyên môn hay do những mục đích nghiên cứu mà có những quan niệm hay định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Ở phương Tây khái niệm “văn hóa” theo tiếng Latinh là “Cultura” với nghĩa “trồng trọt”, “nuôi dưỡng”, “cư trú”, “luyện tập”, “lưu tâm”. Theo nghĩa này, văn hóa được hiểu là quá trình làm nảy sinh, nuôi dưỡng, chăm sóc các hiện tượng, quá trình hoạt động của con người, nhằm tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần của một cộng đồng người. Sự phát triển của văn hóa luôn gắn với sự phát triển của các khoa học về con người nên cách hiểu “văn hóa” ngày càng gắn với những hoạt động của nó.Taylor, trong công trình “Primitive Culture” (1871) lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm văn hóa: toàn bộ những tri thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật lệ, phong tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư cách thành viên của xã hội nắm bắt được. Nhà nhân học Roy d’Andrade khuyến nghị không nên lầm lẫn khái niệm văn hóa với tổng số những tri thức được một nhóm người nào đó chia sẻ.
Bởi nếu hiểu như vậy thì văn hóa là sự tác động tới cách mà con người suy nghĩ và hành động và nếu như vậy, văn hóa có những chức năng như: Chức năng “biểu tượng”: văn hóa chuyển tải 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tri thức và tín ngưỡng về thế giới quanh ta cũng như cách thế giới ấy vận hành và biến đổi; Chức năng xây dựng: văn hóa làm tồn tại những thể chế như hôn nhân, tiền bạc, luật pháp, ngôn ngữ mà con người chấp nhận hoặc không chấp nhận những hệ quả của chúng; Chức năng hướng dẫn: bằng cách nhập tâm, văn hóa thúc đẩy con người tuân theo những chuẩn mực hành vi. Chức năng gợi ý (évocative): đối mặt với các sự kiện, văn hóa làm cho con người cảm nhận tình cảm, thể hiện thái độ, do đó, văn hóa đều mang xúc cảm, có liên hệ với văn hóa. Định nghĩa rất rộng này về văn hóa và về tất cả những gì được gán cho nó dẫn đến chỗ làm cho văn hóa trở thành một hiện thực tinh thần hơn là vật chất. Tuy nhiên, đó không phải là những “nhận thức” đơn giản, mà là một tập hợp những biểu tượng huy động “toàn bộ đời sống tinh thần”, từ trí tuệ đến hành động, từ suy luận đến xúc cảm.
Điều này gây hệ quả là có quá nhiều góc nhìn thích hợp để có thể mô tả cái con người hiểu là văn hóa: từ những đồ vật nó chứa đựng (các tác phẩm, các tri thức, các tín ngưỡng v.v) đến những thể chế và chuẩn mực được nó sử dụng, hoặc từ những thiết bị và những ứng xử do nó quy định. Tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 - 6/8/1982 tại Mêhicô định nghĩa “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biến mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [66, tr. Ở phương Đông, vào thế kỷ VI tr.CN, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “văn” với nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểu hiện trong lễ, nhạc, trong ngôn ngữ, trong giao tiếp và ứng xử của con người với đồng loại. Đến thế kỷ III tr.CN, Tuân Tử giải thích “văn” là cái “ngụy” (cái do con người tạo nên, không tự nhiên mà có).
Người sử dụng thuật ngữ “văn hóa” sớm nhất ở phương Đông có lẽ là Lưu Hướng thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người - văn trị giáo hóa. Sau này “văn” được hiểu là vẻ đẹp, “hóa” là biến cải, biến đổi và “văn hóa” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, văn hóa là đặc trưng vốn có của con người và xã hội loài người. Nếu hoạt động của con vật là hoạt động bản năng, thì hoạt động của con người là hoạt động tự giác, hoạt động phục vụ hiểu biết, khám phá và sáng tạo.
Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”, C.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với sức sáng tạo và năng lực của con người, sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động. Lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Nếu như loài vật chỉ kiếm sống bằng cách lợi dụng các vật có sẵn trong tự nhiên và nhờ đó xác lập bản chất của chúng, thì ngược lại qua lao động các quan hệ của con người được xác lập biến đổi, kể cả quan hệ với tự nhiên. Cái làm nên bản chất người, tạo nên sự khác biệt giữa con người với bất kì giống loài nào của tự nhiên, chính là “hoạt động sống” của con người.
Đó là hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra bản thân con người với tư cách là một thực thể xã hội. Cũng chính trong quá trình lao động, văn hóa đã in dấu của mình trong đó, thẩm thấu trong từng yếu tố của lao động, làm cho lao động, lúc ban đầu như là cái “bản năng”, đã trở thành “văn hóa lao động” của con người.Mác đã đề cập tới cội nguồn sâu xa của văn hóa, giải quyết mỗi quan hệ giữa khách thể và chủ thể văn hóa, coi văn hóa là sự “thăng hoa” 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của quá trình sản xuất vật chất, là cơ sở để con người tự khẳng định bản thân mình với tư cách là chủ thể có ý nghĩa. Chính ý thức đã làm cho con người trở thành chủ nhân đầy trách nhiệm trước tự nhiên, trở thành một thực thể xã hội có cảm xúc, có tình cảm cao quý. Trong toàn bộ các tác phẩm kinh điển của mình C.Mác không để lại một tác phẩm nào với tư cách là sự trình bày hệ thống các quan điểm của mình về văn hóa.
Văn hoá không được C.Mác đề cập đến như một lĩnh vực chuyên biệt, độc lập. Trong triết học Mác bản chất văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất của con người và xã hội.Mác trình bày vấn đề văn hóa trong các tác phẩm: Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Góp phần phê phán khoa Kinh tế, chính trị (1859). Qua các tác phẩm, ta thấy, C.Mác cho rằng, văn hóa bắt nguồn từ lao động, văn hóa như là sự thăng hoa của quá trình sản xuất vật chất, là cái để con người khẳng định mình. Do vậy, bản chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, C.Mác viết: “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước đo của bất cứ giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng; do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” [30, tr.
Ở Việt Nam, học giả Đào Duy Anh đồng nhất văn hóa với xã hội: “Người ta thường cho rằng văn hóa thường là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra, không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội, cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải phạm vi của văn hóa hay sao? Hai tiếng “văn hóa” chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện của loài người. Cho nên, ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr.
Văn hóa thường được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được coi như một lĩnh vực hoạt động. Với nghĩa này, Hồ Chí 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Minh nói: trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn điều cần phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Ở đây văn hóa được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội tạo thành bốn vấn đề của đời sống xã hội.
Văn hóa còn được hiểu là văn hóa - nghệ thuật xếp cạnh giáo dục, khoa học. Còn hẹp hơn nữa là khi văn hóa được dùng với nghĩa học vấn, học thức. Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Trong khi nhiều nhà khoa học trên thế giới còn đang bàn cãi, tranh luận về khái niệm văn hóa thì ở phần cuối “Nhật ký trong tù” (1942- 1943), Hồ Chí Minh đã nêu lên định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.