Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học - Dành cho hệ Đại học không chuyên

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học chuẩn Bộ GD&ĐT dành cho sinh viên đại học hệ không chuyên. Tài liệu học tập và ôn thi đầy đủ, mới nhất.

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2019

143
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và sự ra đời của Giáo trình CNXHKH Đại học

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH) bậc Đại học là tài liệu học tập chính thức do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn, được chủ biên bởi GS. TS Hoàng Chí Bảo cùng tập thể các nhà khoa học xuất sắc. Giáo trình này được dành cho sinh viên các trường Đại học không chuyên lý luận chính trị, nhằm cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống về chủ nghĩa xã hội khoa học - một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phiên bản năm 2019 đã được sửa chữa, bổ sung sau khi dạy thí điểm tại Ban Tuyên giáo Trung ương, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam.

1.1. Định nghĩa CNXHKH theo hai cách hiểu

CNXHKH được hiểu theo nghĩa rộng là chủ nghĩa Mác-Lênin, luận giải sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp, nó là một trong ba bộ phận cơ bản (cùng với triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh), được Lênin xác định trong tác phẩm "Ba nguồn gốc và ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác".

1.2. Hoàn cảnh lịch sử ra đời

CNXHKH ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Điều kiện kinh tế-xã hội này tạo điều kiện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển vượt bậc, dẫn đến sự phân hóa giai cấp và nhu cầu giải thích khoa học về xã hội.

II. Cấu trúc và nội dung chính của Giáo trình

Giáo trình CNXHKH Đại học được cấu trúc thành 7 chương chính, từng chương đều được các chuyên gia biên soạn công phu. Cấu trúc này được thiết kế để hình thành kiến thức hệ thống cho sinh viên từ nhập môn đến các vấn đề chuyên sâu. Mỗi chương không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn giúp phát triển kỹ năng luận chứng, phân tích các vấn đề chính trị-xã hội trong thực tiễn. Giáo trình được soạn dưới sự hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ươngBộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo tính chính thống và phù hợp với đường lối của Đảng.

2.1. Bảy chương cốt lõi của giáo trình

Chương 1 nhập môn CNXHKH; Chương 2 về sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân; Chương 3 về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ; Chương 4 về dân chủ xã hội chủ nghĩa; Chương 5 về cơ cấu xã hội, giai cấp; Chương 6 về vấn đề dân tộc và tôn giáo; Chương 7 về vấn đề gia đình.

2.2. Mục tiêu học tập và phát triển năng lực

Giáo trình hướng tới ba mục tiêu chính: cung cấp kiến thức cơ bản hệ thống, phát triển kỹ năng luận chứng khoa học, và hình thành tư tưởng tích cực về lý luận chính trị. Sinh viên sẽ phân biệt được các vấn đề chính trị-xã hội và có niềm tin vào sự thành công của công cuộc đổi mới.

III. Đội ngũ biên soạn và quá trình hoàn thiện

Giáo trình CNXHKH được biên soạn bởi tập thể gồm 13 nhà khoa học hàng đầu, với GS. TS Hoàng Chí Bảo làm chủ biên chính. Các đồng chủ biên bao gồm GS. TS Dương Xuân NgọcPGS. TS Đỗ Thị Thạch, cùng nhiều phó giáo sư, tiến sĩ chuyên về lý luận chính trị. Quá trình biên soạn được thực hiện dưới sự hướng dẫn sát sao của Ban Chỉ đạoBan Tuyên giáo Trung ương. Sau khi hoàn thành, giáo trình trải qua giai đoạn dạy thí điểm và được Hội đồng nghiệm thu kiểm định vào ngày 29 tháng 7 năm 2019, đảm bảo chất lượng và tính khoa học cao nhất.

3.1. Nhân sự chủ chốt và cấu trúc biên soạn

GS. TS Hoàng Chí Bảo - Chủ biên chính; GS. TS Dương Xuân Ngọc, PGS. TS Đỗ Thị Thạch - Đồng chủ biên. Tập thể 10 PGS. TS khác đồng tác giả, mỗi người chuyên trách các chương khác nhau, từ nhân vật lịch sử đến vấn đề xã hội hiện đại.

3.2. Quy trình nghiệm thu và sửa chữa

Giáo trình đã trải qua dạy thí điểm và được Hội đồng nghiệm thu chuyên gia đánh giá công phu. Tập thể tác giả sửa chữa, bổ sung theo kết luận của Hội đồng để đạt chất lượng tốt nhất trước khi xuất bản, tiếp tục mở cửa cho góp ý từ các giảng viên.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng trong giáo dục Đại học Việt Nam

Giáo trình CNXHKH Đại học (Bản chuẩn Bộ GD&ĐT) có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đây là giáo trình chính thức, thống nhất dành cho tất cả sinh viên các trường Đại học không chuyên về lý luận chính trị, giúp nâng cao chất lượng dạy học lý luận chính trị. Giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết cơ bản mà còn giúp sinh viên liên hệ thực tiễn, hiểu sâu sắc về con đường phát triển xã hộisự cần thiết của chủ nghĩa xã hội. Qua đó, sinh viên sẽ xác định đúng lập trường tư tưởng, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng.

4.1. Vai trò trong phát triển nhân lực

Giáo trình giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện, khả năng luận chứng khoa học, và nhận thức đúng đắn về các vấn đề chính trị-xã hội. Đây là nền tảng tư tưởng cần thiết để hình thành công dân có ý thức, trách nhiệm với xã hộiquốc gia.

4.2. Liên kết lý thuyết với thực tiễn hiện tại

Giáo trình kết nối giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với thực tiễn Việt Nam đương đại, giúp sinh viên hiểu rõ về công cuộc đổi mới, mở cửaxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sinh viên sẽ có niềm tin vào tương laisự thành công của con đường Việt Nam chọn.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC A. Về kiến thức: sinh viên có kiến thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời, các giai đoạn phát triển; đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác- Lênin. Về kỹ năng: sinh viên, kkhả năng luận chứng đươc khách thể và đối tượng nghiên cứu của một khoa học và của một vấn đề nghiên cứu; phân biệt được những vấn đề chính trị- xã hội trong đời sống hiện thực. Về tư tưởng: sinh viên có thái độ tích cực với việc học tập các môn lý luận chính trị; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo B.

Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác- Lênin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế học chính trị và chính trị- xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.I Lênin đã đánh giá khái quát bộ “Tư bản” - tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học… những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”1. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã viết ba phần: “triết học”, “kinh tế chính trị” và “chủ nghĩa xã hội khoa học”.Lênin, khi viết tác phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác”, đã khẳng định: “Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”2. Trong khuôn khổ môn học này, chủ nghĩa xã hội khoa học được nghiên cứu theo nghĩa hẹp.

Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học 1 V.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M. Điều kiện kinh tế - xã hội Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp. Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước đây gộp lại” 1.

Cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp, sự ra đời hai hai giai cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết liệt giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức và trên quy mô rộng khắp. Phong trào Hiến chương của những người lao động ở nước Anh diễn ra trên 10 năm (1836 - 1848); Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi-lê-di, nước Đức diễn ra năm 1844.

Đặc biệt, phong trào công nhân dệt thành phố Li-on, nước Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có tính chất chính trị rõ nét. Nếu năm 1831, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Li-on giương cao khẩu hiệu thuần túy có tính chất kinh tế “sống có việc làm hay là chết trong đấu tranh” thì đến năm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”. Sự phát triển nhanh chóng có tính chính trị công khai của phong trào công nhân đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiện như một lực lượng chính trị độc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị riêng của mình và đã bắt đầu hướng thẳng mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản. Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một cách bức thiết phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động.

Điều kiện kinh tế - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luận mới, tiến bộ- chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận a) Tiền đề khoa học tự nhiên Sau thế kỷ ánh sáng, đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và 1 C.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, t. 603 8 sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Học thuyết Tiến hóa; Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; Học thuyết tế bào1.

Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luận cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị- xã hội đương thời. c) Tiền đề tư tưởng lý luận Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Ph. Phoiơbắc (1804 - 1872); kinh tế chính trị học cổ điển Anh với A. Những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp đã có những giá trị nhất định:1) Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cải khánh kiệt, đạo đức đảo lộn, tội ác gia tăng; 2) đã đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước…; 3) chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao động trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột.

Tuy nhiên, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phê phán còn không ít những hạn chế hoặc do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà tư tưởng, chẳng hạn, không phát hiện ra được quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người nói chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng; không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp công nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.Lênin trong tác phẩm “Ba nguồn gốc, ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác” đã nhận xét: chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch ra được lối thoát thực sự. Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ tư bản, cũng không phát hiện ra được những 1 Học thuyết Tiến hóa (1859) của người Anh Charles Robert Darwin (1809-1882); Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842-1845), của người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov (1711- 1765) và Người Đức Julius Robert Mayer (1814 -1878); Học thuyết tế bào (1838-1839) của nhà thực vật học người Đức Matthias Jakob Schleiden (1804-1881) và nhà vật lý học người Đức Theodor Schwam (1810 - 1882). 9 quy luật phát triển của chế độ tư bản và cũng không tìm được lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới. Chính vì những hạn chế ấy, mà chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán chỉ dừng lại ở mức độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng- phê phán.

Song vượt lên tất cả, những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư tưởng- lý luận, để C.Ănghen kế thừa những hạt nhân hợp lý, lọc bỏ những bất hợp lý, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học. Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen Những điều kiện kinh tế- xã hội và những tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận là điều kiện cần cho một học thuyết ra đời, sông điều kiện đủ để học thuyết khoa học, cách mạng và sãng tạo ra đời chính là vai trò của C.Ăngghen (1820-1895) trưởng thành ở Đức, đất nước có nền triết học phát triển rực rỡ với thành tựu nổi bật là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc và phép biện chứng của V. Bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thấn trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động C. Angghen đến với nhau, đã tiếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và kho tàng tri thức của nhân loại để các ông trở thành những nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại.

Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị Thoạt đầu, khi bước vào hoạt động khoa học, C.Ăngghen là hai thành viên tích cực của câu lạc bộ Hêghen trẻ và chịu ảnh hưởng của quan điểm triết học của V. Với nhãn quan khoa học uyên bác, các ông đã sớm nhận thấy những mặt tích cực và hạn chế trong triết học của V. Với triết học của V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ