Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho viên chức trong các trường Chính trị cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho viên chức tại Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh. 7 Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp tạo động lực làm việc cho viên chức tại Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh. 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC TRONG CÁC TRƢỜNG CHÍNH TRỊ CẤP TỈNH 1.
Tạo động lực làm việc trong tổ chức Hiện nay, tạo động lực làm việc là một vấn đề quan trọng đối với các tổ chức trong khu vực công cả về lý luận và thực tiễn, vì nếu nghiên cứu làm rõ được các giá trị của nó, các tổ chức sẽ tạo ra được hiệu quả công việc cao nhất. Thực tiễn cho thấy, động lực làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến từng con người về mục đích, động lực, thái độ, hiệu quả, giúp tạo thành sức mạnh của tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức và từng con người trong tổ chức đặt ra. Khi có động lực làm việc, từng người sẽ có thái độ tốt, phương thức làm việc cải tiến và hiệu suất công việc sẽ đạt được tối ưu. Trường Chính trị cũng là một tổ chức, do vậy, tổ chức này cần phải có mô hình tốt, cách thức vận hành hiệu quả, đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng, từ đó tổ chức cần đề ra mục tiêu hoạt động rõ ràng, phương thức quản lý hiệu quả.
Qua quá trình thực hiện, phải chú trọng cải tổ chính bản thân theo hướng: có bộ máy phù hợp, cơ cấu tổ chức khoa học, đội ngũ nhân lực đảm bảo số lượng và chất lượng, trong đó từng con người phải có đủ đam mê, khát vọng, tình yêu nghề nghiệp, khát khao và nỗ lực cống hiến. Do vậy, để TĐL làm việc tốt trong tổ chức, cần tạo động lực cụ thể cho từng viên chức, người lao động trên cơ sở tổ chức đó phải áp dụng các nguyên tắc và phương pháp khoa học trong suốt chu trình tạo động lực làm việc. Khái niệm về động lực làm việc Việc TĐL làm việc được xem là yếu tố quan trọng khi quyết định sự phát triển của tổ chức. Khi có ĐLLV, con người sẽ chủ động bắt tay vào công việc với tâm trạng phấn khởi, vui vẻ và thậm chí làm việc hăng say mang lại kết quả tốt nhất.
Trên phương diện khoa học quản lý, khoa học về nguồn nhân lực, động lực làm việc được hiểu và được nghiên cứu trên nhiều góc độ: Tâm lý học, kinh tế học, quản lý học, hành vi tổ chức và văn hóa tổ chức.… Để nghiên cứu 9 chuyên sâu và động lực làm việc, cần phân tích, đánh giá chuyên sâu về thuật ngữ “Động lực làm việc”: Có nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc, tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát nhấ như sau: Động lực làm việc là yếu tố thúc đẩy con người hành động và hướng tới mục tiêu mong đợi. ĐLLV có thể được hiểu là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc trên sự tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu của từng con người và thỏa mãn mục tiêu chung của tổ chức trong quá trình triển khai lao động. Nói cách khác, ĐLLV là yếu tố trọng tâm của tiến trình lao động, định hướng, thúc đẩy người lao động phát huy hết khả năng, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Điều này minh chứng rằng, tại sao trong những môi trường nào đó, có người lao động nào đó làm việc mà không cần ép buộc, thậm chí có thể làm được nhiều hơn cả mong đợi của cấp trên.
Khái niệm về tạo động lực làm việc Thuật ngữ “tạo động lực làm việc” được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau, cụ thể: - Có nhiều thuật ngữ có liên quan đến tạo động lực làm việc, tuy nhiên, thuật ngữ “to motivate” có nghĩa ương đối chính xác: Tạo ĐLLV nghĩa là nhà quản lý có những tác động đến NLĐ bằng hành vi gây kích thích thúc đẩy hành động, gần giống với khơi gợi, tạo cảm hứng hay khích lệ. - Tạo động lực làm việc cũng có thể hiểu là một chuỗi quá trình các nhà quản lý tác động đến NLĐ bằng các chính sách, biện pháp thích hợp, nhằm mục đích thúc đẩy họ hoàn thành công việc một cách tự nguyện nhưng lại mang hiệu quả cao, có tinh thần cống hiến cho tổ chức. Họ có thể sử dụng các biện pháp, chính sách về quy định, chế độ, tiền lương hoặc các hoạt động khác để thúc đẩy động lực làm việc của NLĐ. Qua các quan niệm nêu trên, có thể rút ra khái niệm: “Tạo động lực làm việc là các biện pháp (chính sách, biện pháp, thủ thuật, cách ứng xử hay các hoạt động có tính chất khuyến khích, cổ vũ, động viên) tác động lên người lao động 10 nhằm tạo ra động cơ, sự chuyển biến tích cực trong hành vi, hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn”.
Vai trò của tạo động lực làm việc Tạo động lực việc làm có ý nghĩa quan trọng, thể hiện cụ thể qua một số vai trò sau đây: Thứ nhất, tạo động lực làm việc là yếu tố quyết định hiệu suất làm việc của các cá nhân trong tổ chức, bởi nó giúp cá nhân phát huy tối đa khả năng, hoàn thành công việc tốt hơn, góp phần vào thành công của tổ chức. Do vậy, các tổ chức cần có sự hỗ trợ, trang bị tốt các công cụ, trang thiết bị, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, xây dựng và ban hành các cơ chế các chính sách đáp ứng nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc… Từ đó, thúc đẩy nội lực của cá nhân về việc trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng, làm giàu thêm các hiểu biết và kinh nghiệm, từ đó cá nhân đạt được các mục đích tổ chức giao. Thứ hai, tạo động lực làm việc có ý nghĩa thúc đẩy sự sáng tạo của chuyên môn, công việc thông qua vai trò của từng cá nhân trong tổ chức. Các cơ chế, chính sách được ban hành tạo môi trường làm việc thoải mái và kích thích sự say mê, từ đó thúc đẩy tính sáng tạo trong công việc.
Tính sáng tạo trong công việc có thể giúp tổ chức thích ứng nhanh chóng với các thay đổi của phát triển công nghệ, xu thế của thế giới và môi trường bên ngoài. Thứ ba, tạo ĐLLV giúp viên chức gắn kết với tổ chức, ó khả năng kết nối với đồng nghiệp, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực diễn ra bên trong tổ chức. Đồng thời, động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc giúp tổ chức xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, hợp tác và không phản ứng tiêu cực với thay đổi. Thứ tư, tạo động lực làm việc có vai trò thúc đẩy nội lực của người lao động khi họ đam mê hơn, nỗ lực hơn, có mục tiêu hành động tích cực hơn nên là yếu tố giúp tổ chức tăng năng suất lao động, thực hiện các nhiệm vụ với kết quả tốt hơn.
Do vậy, động lực làm việc phải là sự động viên khuyến khích kịp thời từ chế độ, chính sách, từ đó tạo nên các giá trị từ bên trong con người, thúc đẩy người lao động với kết quả, năng suất cao hơn. Biểu hiện của tạo động lực làm việc Qua nghiên cứu các vấn đề có liên quan, có thể thấy, động lực làm việc được biểu hiện qua các hình thức sau: Thứ nhất, động lực làm việc biểu hiện qua tính chủ động, sáng tạo của từng cá nhân trong giải quyết công việc, đó là sự lao động có chuyên môn, có tâm huyết và có thái độ làm việc tốt. Trong quá trình làm việc, NLĐ phải thực thi các nhiệm vụ của mình với mục tiêu là kết quả tốt nhất, do vậy, họ phải thể hiện tính chủ động và sáng tạo nhằm tạo ra những sản phẩm mới, đáp ứng được hai yêu cầu: có tính mới và phải có giá trị hơn so với sản phẩm cũ. Thông qua quá trình làm việc họ thể hiện: nhu cầu cống hiến, có tinh thần trách nhiệm, sự năng nỗ, hăng hái trong đổi mới phương pháp làm việc, giúp công việc được hoàn thành một cách có hiệu quả hơn, chủ động sáng.
Thứ hai, ĐLLV biểu hiện qua mức độ quan tâm và sự hứng thú của NLĐ khi tham gia vào công việc. Người lao động ý thức được phạm vi công việc, có trách nhiệm với bản thân, với công việc mình làm, có phương pháp khoa học, có thái độ tốt, sẵn sàng nhận nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao, kể cả công việc đột xuất. Do vậy, hiệu quả CV luôn gắn liền với động lực làm việc, và đó cũng là thước đo chính xác nhất về hiệu quả, thái độ, tính chuyên nghiệp và mức độ hoàn thành CV. Thứ ba, động lực làm việc biểu hiện qua mức độ và sự nỗ lực để hoàn thành công việc.
Trong thực tiễn, qua quá trình lao động, nếu người lao động tích cực, có tinh thần, thái độ làm việc tốt thì hiệu quả sẽ cao và ngược lại. Để đo lường được hiệu quả công việc của NLĐ có thể tính dựa vào công thức, cụ thể như sau: Khối lượng công việc hoàn thành Mức độ hoàn thành công việc được giao = Khối lượng công việc được giao Thứ tư, động lực làm việc biểu hiện qua sự say mê nghiên cứu, sự nỗ lực trau đồi kiến thức. 12 Khi được tổ chức tạo ra các chính sách, chế độ theo định hướng mục tiêu rõ ràng, đảm bảo phù hợp với ước muốn của NLĐ, sẽ tạo ra được động lực để NLĐ cống hiến sức lực, đam mê, đầu tư chuyên môn nghề nghiệp, không ngừng hoàn thiện và phát triển bản thân, từ đó góp phần xây dựng và phát triển tổ chức. Thứ năm, động lực làm việc của người lao động thể hiện qua năng suất, chất lượng và hiệu quả trong công việc.
Năng suất làm việc dùng để đo lường khả năng của NLĐ dựa trên kết quả làm việc trong một khoản thời gian nhất định, công cụ hỗ trợ nhất định, nó giúp đánh giá hiệu quả của NLĐ trong tổ chức. Khi có ĐLLV tốt thì NLĐ sẽ có những biểu hiện như: biết cách sắp xếp công việc của bản thân; họ biết được cách hoàn thành công việc đó trong thời gian nhanh nhất và đạt kết quả tốt nhất; sáng tạo và ứng dụng những phương pháp làm việc hiệu quả Thứ sáu, động lực làm việc của người lao động được thể hiện qua mức độ hài lòng trong công việc.