Chương 1 TONG QUAN VE NGUON SỬ LIEU DIA BA VÀ HUYỆN DAN PHƯỢNG 1. Tổng quan về sử liệu địa ba 1. Khái niệm sử liệu và Sử liệu học Sử liệu, theo C. Smidt “la tdt cả những gì mà từ đó khai thác được những thông tin về quá khứ”.
Nói cách khác, sử liệu là “tất cả những gì trong tự nhiên và xã hội con người mà từ đó có thể khai thác được những thông tin về lịch sử hoạt động cia con người” [73, tr. Sử liệu học, với tư cách là một ngành khoa hoc, có đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các nguồn sử liệu đa dạng về loại hình và phong phú về lĩnh vực phản ánh [73, tr. Nhiệm vụ chính của ngành Sử liệu học là lý luận về nguồn sử liệu và các phương pháp sử dụng chúng [73, tr. Cụ thể hơn, Sử liệu học có hai nhiệm vụ.
Thứ nhất là trên cơ sở các loại hình tư liệu cụ thé, từ đó nghiên cứu bản chất của nguồn, các phương pháp phân loại, sưu tầm, chọn lọc, giải mã các thông tin trong sử liệu, xác định tính xác thực và độ tin cậy của nguồn và thông tin mà nó phản ánh [73, 20]. Thứ hai, dựa trên cơ sở lý luận sử liệu học, tiễn hành xây dựng các lĩnh vực sử liệu học cụ thé như Sử liệu học lịch sử Việt Nam, Sử liệu học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,. Với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu về các nguồn sử liệu, Sử liệu học có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học khác. Đối với Khoa học lịch sử, Sử liệu học giúp khảo cứu, xác minh tính xác thực của nguồn và độ tin cậy của các thông tin mà tư liệu lịch sử phản ánh [73, tr.
Để thực hiện công tác nghiên cứu sử liệu, nhà Sử liệu học cũng cần nắm được những tri thức của ngành Ngôn ngữ học, dựa vào đó dé giải mã sử liệu dé từ đó tiến hành công tác phê phán. Sử liệu học có mối quan hệ chặt chẽ với Văn bản học nhưng đây cũng là hai ngành riêng biệt. Nếu Văn bản học lấy văn bản là đối tượng dé nghiên cứu thì Sử liệu học ngoài thông tin trong văn bản thi còn nghiên cứu kênh thông tin, tức chính bản thân hình thái vật chất của văn bản đó. Ngoài ra, Sử liệu học còn có mối quan hệ tương hỗ với các ngành khoa học khác như Nhân học xã hội, Triết học, Lưu trữ hoc và Dia danh học [73, tr.
Một số vấn đề cơ bản về địa bạ Khái quát về địa bạ Dia bạ, Hán tự là #838, hiểu đơn giản là số sách về ruộng đất. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa địa bạ là số của chính quyền ghi chép về ruộng đất và quyền sử dụng đất. Theo Phan Huy Lê, “Dia bạ là văn bản chính thức về địa giới và diện tích các loại ruộng đất, các loại hình sở hữu ruộng đất của làng xã, được lập trên sự khám đạc và xác nhận của chính quyên, dùng làm cơ sở cho việc quản lý ruộng đất và thu tô thuế của Nhà nước” [81, tr. Với Nguyễn Văn Khánh, “Địa bạ (cadastre, registre foncier) là văn bản chính thức về địa giới, điện tích ruộng đất tương ứng với các chủ sở hữu (tập thể hoặc cá nhân), được xây dựng trên cơ sở đo đạc và xác nhận của chính quyên, dùng làm cơ sở để quản lý ruộng đất và thu thuế của Nhà nước” [76, tr.
Hiểu một cách tổng quát, địa bạ là một văn bản hành chính của nhà nước, bên trong chứa đựng các thông tin về địa giới, diện tích, loại hình ruộng đất và các chủ sở hữu. Địa bạ được lập nhằm giúp các chính quyền trung ương có cơ sở đề thu thuế và quản lý ruộng đất ở các làng xã. Là một quốc gia nông nghiệp, sự thịnh suy của đất nước gắn chặt với ruộng đất và những nguồn thu thuế từ ruộng. Chính vì vậy, việc quản lý ruộng đất được các triều đại quân chủ Việt Nam hết sức quan tâm.
Để công việc quản lý đất đai được thuận lợi, hệ thông số sách là công cụ không thể thiếu. Không chỉ giúp cho công tác quản lý, địa bạ còn là một biéu tượng của quyền lực. Trong điều kiện xã hội tiền công nghiệp với các công cụ hạn chế, quản lý, đo đạc được đất đai rồi trên cơ sở đó lập số sách là một công việc phức tạp và cần nhiều công sức. Thực hiện được công việc này thê hiện sức mạnh của chính quyền trung ương xuống đến tận các địa phương.
Vì vậy, các nhà nước quân chủ Việt Nam đều dành sự quan tâm nhất định cho hệ thống văn bản này. Dia bạ có một quá trình phát triển lâu dài và song hành với lich sử Việt Nam. Theo Phan Huy Lê, mỗi bản địa bạ được đóng thành một tập, thường có trên đưới 10 tờ (20 trang) đến trên đưới 100 tờ (200 trang) tùy thuộc theo tình hình ruộng đất và số 17 chủ sở hữu ở mỗi làng xã. Các địa bạ đều được viết tay bằng chữ Hán, một số chỗ viết bằng chữ Nôm.
Kết cấu địa bạ thường gồm 4 phần: Phần thứ nhất xác định địa phận của làng xã với các thông tin như tên gọi, vị trí hành chính thuộc tổng, huyện, phủ trấn hay tỉnh nào. Trong phần này cũng có các thông tin về giáp giới bốn phía đông, tây, nam, bắc. Phan thứ hai kê khai các loại hình ruộng đất của làng xã và số điện tích của từng loại hình. Các loại hình thường bao gồm: ruộng đất công, tư, ruộng đất canh tác, ruộng đất bỏ hoang, các phần ruộng đất của chùa, đền, miéu, của các dòng họ, đất dé ở, đất làm nghĩa địa, đất bãi, các loại ao, đầm, hồ.
Các phần ruộng đất được canh tác còn được phân loại rõ ràng theo chất lượng (loại một, loại hai, loại ba), theo mùa vụ (hạ, thu) hay theo loại cây trồng (ruộng lúa, đất trồng dâu, trồng mía,. Phần thứ ba kê khai cụ thể từng thửa đất với các thông tin: diện tích, vị trí, giáp giới bốn phía đông, tây, nam, bắc, phân loại ruộng đất, họ tên người chủ sở hữu, quê quán của chủ sở hữu nếu đó là thửa ruộng phụ canh (hay xâm canh). Đây là phần có dung lượng lớn nhất địa bạ, thường chiếm đến 90% tổng số trang. Phần này cung cấp rất nhiều thông tin cụ thé về tình trạng chiếm hữu ruộng dat, kết cấu kinh tế - xã hội của làng xã.
Tuy nhiên, trong nhiều địa bạ, phần này có nội dung rất hạn chế, chỉ liệt kê được vài xứ đồng, vài thửa ruộng công, châu thổ vì làng xã đó không có ruộng đất tư hữu. Phần thứ tư mang chức năng thủ tục hành chính. Nội dung phần này xác định các thông tin rằng địa bạ có bao nhiêu tờ, kèm với đó là lời cam kết kê khai chính xác về diện tích, các loại hình ruộng đất và thông tin về các thửa ruộng, sau đó là ngày tháng năm lập địa bạ, ghi theo niên hiệu của vị vua đang trị vì. Cuối cùng là chữ ký xác nhận, hoặc điểm chỉ của các chức dịch đơn vị hành chính cơ sở như lý trưởng, sắc mục,.
và các cấp cao hơn như cấp tổng (cai tổng), chữ ký và đóng dấu của các viên quan lại cấp phủ, huyện, trân, hay tinh và bộ Hộ [81, tr. Bao hàm những nội dung trên, địa bạ là một nguồn tư liệu phong phú, quý giá để nghiên cứu về nông thôn Việt Nam. Từ địa bạ, ta có thể khai thác thông tin từ các phương diện như: 18 1, Tình hình khai phá, sử dụng ruộng đất, đặc điểm của nền nông nghiệp truyền thống. 2, Chế độ sở hữu ruộng đất với nhiều hình thái phức tạp như sở hữu nhà nước, sở hữu công xã, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng của các họ, phe, giáp, đinh, sở hữu của các hệ thống tôn giáo như chùa, đền, miếu.
3, Địa bạ cũng góp phần phản ánh tình trạng chiếm hữu ruộng đất và sự phân hóa xã hội ở nông thôn Việt Nam thời trung đại. Nguồn sử liệu nay cũng cung cấp các thông tin về kết cầu xã hội và các giai tầng trong làng xã. Mức độ sở hữu đất đai của các tầng lớp tinh hoa, có quyén lực trong xã hội như quan lại, nho sĩ, chức dich. 4, Thống kê được các dòng họ và sự phân bồ theo khu vực, góp phần nghiên cứu dân số học nông thôn.
5, Góp thêm nguồn tư liệu dé nghiên cứu về văn tự và ngôn ngữ Việt cổ, diễn tiến và cách đọc chữ Nôm. Gián tiếp giúp ích cho việc nghiên cứu về đời sống, tổ chức ở làng xã, tình hình tín ngưỡng ở nông thôn [98, tr. Quá trình hình thành và phát triển của địa bạ Việt Nam Việc lập địa bạ trước thời Nguyễn (trước năm 1802) Ngay từ thời Bắc thuộc, các triều đại đô hộ phương Bắc khá quan tâm đến việc rà soát tình hình dân số, lập số hộ khâu như một nỗ lực dé củng cố, tăng cường và giúp ích cho việc đô hộ nước ta. Tuy nhiên, chưa thấy có ghi chép nào về việc các chính quyền đô hộ này cho tiến hành công việc đo đạc ruộng đất, lập địa bạ.
Lần lập địa bạ đầu tiên của Việt Nam được ghi nhận là vào năm 1092, dưới thời nhà Lý. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi chép về sự việc này bằng vài chữ ngắn ngui: 32 A FE (78S w= FB [định điền tịch trưng tô mỗi mẫu tam thăng cấp quân lương] [29, tr. 12b] - lập sé ruộng thu tô mỗi mẫu ba thăng dé cấp quân lương. Mục đích của việc lập số ruộng đất được nêu rất rõ ràng là đề thu tô, cấp phát cho quân đội.
Sang đến triều Lê Sơ, ngay sau khi vừa chiến thắng quân Minh, giành lại được độc lập cho dân tộc, bên cạnh việc thống kê lại dân số sau chiến tranh, vua Lê Thái Tổ cũng 19 cho tiến hành kiểm kê lại dat đai, lập địa bạ luôn trong năm 1428: —+#zH‡#£H?§Ƒˆ‡§ ##3# [nhị thập ngũ nhật tu điền bạ hộ tịch dang vụ] [29, tr. 62b] - ngày 25 [tháng 11 năm 1428] làm số ruộng, hộ tịch các hạng. Công việc lập địa bạ không chỉ được triển khai trong thời thái bình thịnh trị hay mới giành được độc lập, mà ngay cả khi tình hình chính trị đất nước đang nhiễu động, triều đình cũng cho tiến hành lập địa bạ. Cụ thể là vào năm 1524, dưới triều vua Lê Cung Hoàn: 34° #3 HS [tao hộ tịch điền bạ] [29, tr.