Chương 1, 2 bàn về tiến trình cải cách, chương 3 luận bàn sâu về các mối quan hệ nước lớn (trong đó có Trung Quốc) của Myanmar. Chương này, các tác giả đưa ra những phân tích và đánh giá mang tính tổng hợp, sắc bén về thực trạng và triển vọng trong cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc-Ấn Độ-Mỹ-Nhật Bản tại Myanmar. Tuy nhiên, một số hạn chế: chương này chưa giải quyết được bài toán chính sách Trung Quốc của Myanmar thành công hay thất bại và chưa phải là đề tài nghiên cứu xuyên suốt về chặng đường chính sách Myanmar của Trung Quốc tính từ sau CTL. Ấn phẩm cơ bản, nhưng toàn diện nhất trong số các tài liệu xuất hiện trong giai đoạn 1948-2010, có ảnh hưởng to lớn và mạnh mẽ nhất tới đề tài luận án của NCS, In the Name of Pauk- Phaw: Myanmar’s China policy since 1948, của Giáo sư Maung Aung Myoe (Chuyên gia Quan hệ quốc tế, nghiên cứu sâu về Trung Quốc, Myanmar), xuất bản tại: Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 2011, (238 PP).
Sách gồm 3 phần chính, dựng nên bức tranh sinh động, đầy đủ về quan hệ hai nước6. Ông đồng tình với quan điểm của GS. Poon Kim Shee về đặc tính, bản chất trong quan hệ hai nước (tính bất đối xứng, nhưng đối ứng, quan hệ phụ thuộc mang tính cộng sinh). Dù vậy, sách vẫn còn một số hạn chế (xin chỉ ra cụ thể ở mục kết luận) 5 i) 1950-1962: chung sống hòa bình; ii) 1962-1971: quan hệ xấu đi; iii) 1971-1988: cải thiện quan hệ; iv) 1988 đến nay: quan hệ thân thiện.
6 1) GĐ 1: 1948-1962: Thời gian định hình quan hệ; 2) GĐ 2: 1962-1988: những năm tháng sống trong nguy hiểm ; 3) GĐ 3: 1988-2010: hướng tới hợp tác gần gũi. 11 Nhìn chung, số lượng các ấn phẩm tương đối lớn, chủ đề nghiên cứu đa dạng, các tác giả cố gắng tìm ra bản chất và đặc trưng quan hệ hai nước, song chưa có những phân tích chuyên sâu về chính sách Myanmar của Trung Quốc. Với việc phân nhóm, phân loại các nghiên cứu nhằm tìm ra những điểm mạnh yếu của các luận điểm, để sau đó tìm ra tính mới. Những nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc-Myanmar và những tác động đến an ninh khu vực, bao gồm một số các nghiên cứu tiêu biểu sau.Mohan Malik với ấn phẩm “China - India Relations in the Post – Soviet Era: The Continuing Rivalry”, đăng trên China Quarterly, No.
Tác giá đánh giá rằng Bắc Kinh đã thất bại trong nỗ lực dính líu và hậu thuẫn Đảng Cộng sản Miến Điện, bày tỏ quan ngại tới lợi ích an ninh Ấn Độ tại Ấn Độ Dương, đặt ra nghi ngại về vai trò khu vực của Myanmar và khả năng nước này từ bỏ chính sách trung lập truyền thống, trở thành con bài chiến lược, trục kinh tế của Trung Quốc. Malik bày bỏ nghi ngại nên xây dựng quan điểm quá mạnh trên trường phái này, mất đi tính khách quan khoa học. Trong một ấn phẩm khác, J.Mohan Malik với “Myanmar‟s Role in Regional Security: Pawn or Pivot ?”, Comtemporary Southeast Asia (Vol. Nội dung bài viết đặt ra nghi ngờ về vai trò thực tế của Myanmar trong an ninh khu vực ĐNA, với câu hỏi liệu nước này có phải là con bài hay sự cầm cố chiến lược của các nước lớn.
Andrew Selth với Burma’s China Connection and the Indian Ocean Region, SDSC Working Paper No. Tác giả một mặt thừa nhận Myanmar từ bỏ chủ nghĩa trung lập truyền thống, mặt khác cho rằng Myanmar có khả năng cân bằng nước lớn và rút dần khỏi quỹ đạo của Trung Quốc. Selth thành công khi phân tích chiến lược của Trung Quốc, nhưng chỉ ra rất ít mặt được-mất từ tính toán thực dụng của Myanmar với Trung Quốc và chưa xác định được những tác động an ninh tới khu vực Ấn Độ Dương. Ho Khai Leong và Samuel C.Ku với China and Southeast Asia Global changes and Regional challenges, ISEAS, 12 Singapore, 2005 kết hợp CSAS, National Sun Yat-sen University Kaohsiung, Taiwan ROC.
Trang 121-124, luận bàn cô đọng về quan hệ Myanmar-Trung Quốc nằm trong quan hệ Trung Quốc - ASEAN, nhưng chưa phân tích sâu về Myanmar, mới dừng lại những nét tương đối chung trong ASEAN. Năm 2008, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Vụ ĐNA, Nam TBD (đề tài cấp cơ sở), Triển vọng tình hình Myanmar và các vấn đề đặt ra đối với ASEAN và Việt Nam. Công trình có trình bày bối cảnh, thực trạng bên trong Myanmar, các thách thức đặt ra cho sự thống nhất, phát triển ASEAN và trong quan hệ với Việt Nam. Tuy nhiên, cách tiếp cận chưa đầy đủ, thiếu nguồn trích dẫn khoa học, việc dự báo chung chung, chưa sâu sắc.
Tại Trung Quốc, Giáo sư Lý Chấn Dương (Li Chenyang), với “China–Myanmar Comprehensive Strategic Cooperative Partnership: A Regional Threat?”, tạp chí Journal of Curent Southeast Asian Affairs, Yunnan University, Kunming, China, 1/2012, PP. Nhằm giảm đi luồng dư luận quốc tế về bản chất chính sách Myanmar của Trung Quốc, GS. Lý Chấn Dương phân tích lý luận và các mối quan hệ Đối tác chiến lược của Trung Quốc để nhận định rằng quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Myanmar là hoàn toàn bình thường, không gây ra bất kỳ đe dọa nào tới an ninh khu vực. Nhận định trên mang tính xoa dịu và thuyết phục, chỉ tìm những nét có lợi và tích cực, chưa phân tích tới các mặt trái, đặc biệt chỉ dựa trên quan hệ Đối tác chiến lược, thì chưa đủ cơ sở khoa học để đưa ra tổng kết đặc trưng về bản chất chính sách.
Sở Thụ Long – Kim Uy (cb), Chiến lược và Chính sách Ngoại giao của Trung Quốc (Sđd), Phần III, Chương 4 & 5 bàn về quan hệ Trung Quốc với các nước ĐNA, vai trò “địa-chiến lược” vô cùng quan trọng của ĐNA cho tương lai phát triển của Trung Quốc. Myanmar là một mắt xích không thể thiếu cho Trung Quốc. Nhưng, các tác giả không chỉ rõ vị trí của Myanmar trong chính sách hiện tại và trong mục tiêu chiến lược trong tương lai của Trung Quốc. Myanmar nằm ở một vị trí ưu tiên nhất định trong tổng thể chính sách của Trung Quốc với ĐNA.
Các ấn phẩm trên gần như chưa có những phân tích về 13 tác động từ chính sách Myanmar của Trung Quốc tới an ninh khu vực Đông Á, cụ thể là với ĐNA. Tóm lại: Với nguồn tư liệu phong phú, đa dạng, đa chiều, với những phân tích sâu sắc của Aung Maung Myo hay của Kim Poon Shee và những lập luận của Kudo cùng nhiều các tác giả khác đã giúp NCS: 1) Có một bức tranh hoàn chỉnh về quan hệ giữa Trung Quốc và Myanmar từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến kết thúc năm 2015. 2) Cung cấp cho NCS những quan điểm lớn trong nghiên cứu về mối quan hệ song phương này. 3) Giúp cho NCS hiểu được bản chất của chính sách Trung Quốc với Myanmar trong so sánh với các quốc gia láng giềng khác.
Tuy nhiên, với nhiệm vụ nghiên cứu của mình, NCS thấy rằng: Một là, các nghiên cứu trên chưa xác định rõ vị trí của Myanmar trong chính sách NGLG của Trung Quốc. Hai là, chưa làm nổi bật được vị trí của Myanmar trong quá trình “hướng Tây” của Trung Quốc. Ba là, chưa đề cập đến chính sách Myanmar của Trung Quốc tác động đến ASEAN ra sao. Bốn là, chưa cập nhật mối quan hệ Trung Quốc - Myanmar đến năm 2016 và dự báo triển vọng của mối quan hệ này sau những cải cách chính trị của Myanmar.
Do vậy, người viết sẽ đưa ra những đánh giá mang tính so sánh, tổng hợp giữa các giai đoạn trong triển khai chính sách, để từ đó đưa ra mặt kế thừa và tính mới trong chính sách Myanmar của Trung Quốc. Phân tích mặt tác động chính sách lên chủ thể và đối tượng chính sách, đặc biệt các đánh giá về mặt tác động an ninh tới ASEAN, và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn như Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản với Trung Quốc tại Myanmar (được triển khai với dung lượng lớn trong chương 3). Rút ra một vài đặc trưng cơ bản trong chính sách NGLG thông qua trường hợp nghiên cứu chính sách Myanmar của Trung Quốc là điểm khác biệt lớn nhất mà các công trình trước đó chưa có. Ngoài ra, tất cả các vấn đề nghiên cứu liên quan cần được hệ thống hóa và cập nhật.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực chất những vấn đề cốt lõi về tính kế thừa và sự điều chỉnh chính sách Myanmar của Trung Quốc từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến 2015, từ đó nêu ra những khả năng điều chỉnh ít nhất tới 2020. Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm. (1) Làm rõ những cơ sở hoạch định chính sách Myanmar của Trung Quốc từ sau CTL đến 2015. (2) Phân tích quá trình thực hiện chính sách.
(3) Đánh giá những tác động chính sách và dự báo những khả năng thay đổi/điều chỉnh trong chính sách. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách Myanmar của Trung Quốc từ sau CTL đến 2015. Phạm vi nghiên cứu: Khu vực không gian nghiên cứu địa lý thuộc hai nước Trung Quốc, Myanmar, trong đó có sự mở rộng ra các vùng không gian địa lý có ảnh hưởng xung quanh (chủ yếu là khu vực ĐNA, Ấn Độ Dương). Giới hạn nghiên cứu thời gian: Từ sau CTL khi chính sách NGLG của Trung Quốc được triển khai và mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2015 khi Myanmar bước vào giai đoạn bầu cử Quốc hội mới.
Phạm vi nội dung giới hạn ở việc phân tích và làm sáng tỏ chính sách Myanmar của Trung Quốc. Phƣơng pháp nghiên cứu. Phương pháp luận: Là một luận án nghiên cứu về chính sách đối ngoại qua mối quan hệ song phương giữa hai nhà nước, NCS đã sử dụng: - Phép duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin để xem xét mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với những quyết định của chính sách, giữa sự thay đổi của kinh tế (hạ tầng cơ sở) với những tham vọng của chính sách (thượng tầng kiến trúc), xem xét thấu đáo các mối quan hệ giữa sự thay đổi của xã hội với sự thay đổi của nhận thức. - Chủ nghĩa Hiện thực trong quan hệ quốc tế để phân tích lợi ích quốc gia, quyền lực quốc gia thông qua chính sách đối ngoại và hành xử của các quốc gia 15 trong mối quan hệ song phương.
Với trường phái Tân hiện thực, người viết đã tìm thấy những giải đáp cho phân tích về cân bằng quyền lực, về khái niệm bá quyền trong “hiện thực tấn công” để giải thích trường hợp trỗi dậy của Trung Quốc.