Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI “Đối ngoại”, theo định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [163] là đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức; để phân biệt với đối nội. Đối ngoại luôn là nội dung quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đối với đường lối, chính sách của bất kỳ nhà nước hay tổ chức nào. Còn “ngoại giao” là việc thực hiện các mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền thông qua liên lạc, thương lượng, gây ảnh hưởng cũng như điều chỉnh những khác biệt.
Do thời kỳ luận án đề cập đến Đảng chưa phải là Đảng cầm quyền, Nhà nước Việt Nam chưa được thành lập, nên nghiên cứu sinh sử dụng thuật ngữ “đối ngoại” để nói đến các hoạt động của Đảng đối với các Đảng, các lực lượng quốc tế thời kỳ này. Đây là thời điểm mà đường lối đối ngoại cùng các hoạt động đối ngoại của Đảng có tác động đến đường lối chung của Đảng trong quá trình lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng của dân tộc, tránh được những tổn thất lớn lao, là một nội dung quan trọng trong quá trình nghiên cứu lịch sử Đảng nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung. Các nội dung về vấn đề này được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, xã hội, các luận án, luận văn, sách, báo… về lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử Đảng nói riêng. Có thể phân chia thành ba nhóm chính sau đây: 1.
Những công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng liên quan đến đề tài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chung của lịch sử ĐCS mà trong đó có đề cập đến hoạt động đối ngoại ở các khía cạnh khác nhau. Đáng chú ý là các công trình: 8 “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương [7]. Cuốn sách đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng qua các giai đoạn lịch sử, cung cấp những nội dung cơ bản của lịch sử Đảng trong đó nêu lên những quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động đối ngoại. Các sách lịch sử do các đồng chí lãnh đạo của Đảng viết như: Trường Chinh, “Tiến lên dưới lá cờ của Đảng” [23]; Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam”, tập I [24]; tập II [25]; Trường Chinh, “Cách mạng Tháng Tám” [26]; Lê Duẩn, “Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam” [30]; Lê Duẩn, “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới” [32]… đã chỉ ra những nội dung cụ thể, trong đó có hoạt động đối ngoại, có tính chất tổng kết lý luận và thực tiễn rất cơ bản, hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân ta vươn lên đạt những thắng lợi mới cho sự nghiệp cách mạng.
“Cách mạng Tháng Mười với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN Lê Duẩn [31]. Cuốn sách đã tập trung khẳng định ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thể hiện sự tiếp thu của Đảng từ thành công của cuộc Cách mạng Tháng Mười, để lãnh đạo nhân dân nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giành thắng lợi về mọi mặt, trong đó có mặt trận đối ngoại. “Lịch sử Cách mạng Tháng Tám” của Viện Lịch sử Đảng [161]. Cuốn sách cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn trình của Cách mạng Tháng Tám, trong đó có đan xen những chủ trương và hoạt động đối ngoại của Đảng và Hồ Chí Minh.
“Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” của tác giả Nguyễn Duy Quý [137]. Cuốn sách đề cập đến việc phát triển một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tiến trình cách mạng Việt Nam và thế giới, phân tích những vấn đề lớn của dân tộc và những sự kiện lớn của thế giới, trong đó có đề cập đến các hoạt động 9 đối ngoại, vấn đề hợp tác quốc tế. nhưng phân tích ở nhiều thời kỳ, nhiều khía cạnh khác nhau. Những công trình trên đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về lịch sử Đảng, về quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, trong đó có các hoạt động đối ngoại.
Qua đó, các tác giả đều khẳng định: những quan điểm, đường lối của Đảng nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng đã có giá trị lớn, góp phần vào thành công của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế, và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo hoạt động đối ngoại. Đây là những công trình khoa học cung cấp những vấn đề lý luận chung, phương pháp nghiên cứu đề tài; những luận điểm khoa học và là tài liệu quý cho nghiên cứu sinh trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ mà luận án đặt ra. Những công trình khoa học nghiên cứu quan hệ đối ngoại và hoạt động đối ngoại của Đảng liên quan đến đề tài Nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của Đảng, cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 là một vấn đề mới.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam thường bắt đầu từ thời điểm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức thành lập (2-9-1945). Các hoạt động đối ngoại của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945 chưa được nghiên cứu thành công trình chuyên khảo riêng biệt. Dù thời kỳ này, các hoạt động đối ngoại của Đảng có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đấu tranh cách mạng, giành chính quyền về tay nhân dân. Từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng cần có sự ủng hộ mạnh mẽ từ QTCS và các ĐCS anh em để khẳng định vai trò cũng như có tiếng nói uy tín trên mặt trận đấu tranh quốc tế.
Từng bước, cùng với sự phát triển của cách mạng, Đảng cũng phải đối mặt với nhiều kẻ thù trực tiếp, gián tiếp. Các công trình nghiên cứu đã đưa ra đánh giá về đường lối đối ngoại của Đảng, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh, của cách mạng Việt Nam. Đối với việc nghiên cứu về đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng, có các công trình tiêu biểu như: 10 “Ý nghĩa của việc đánh bại chủ nghĩa quân phiệt Nhật đối với thắng lợi của cuộc cách mạng nhân dân ở Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam” của tác giả M. Tác giả tập trung vào phong trào giải phóng dân tộc ở Viễn Đông và Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Trong đó có đề cập đến quan hệ đối ngoại, thời cơ cách mạng dẫn đến sự ra đời của ĐCSVN để lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. “Cách mạng Việt Nam 1945-Rudơven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong thế giới có chiến tranh” của tác giả Stein Tønnesson [154]. Trong cuốn sách, tác giả phân tích tình hình quốc tế và Việt Nam; nhấn mạnh các nguyên nhân dẫn tới thành công của cách mạng Việt Nam năm 1945. “Paris-Sài Gòn-Hà Nội-Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947 của tác giả Philippe Deviller [29].
Cuốn sách đã nêu lên những nhận định của một nhà sử học người Pháp về cuộc chiến tranh ở Việt Nam thông qua khối tài liệu lưu trữ từ phía Pháp. “Tại sao Việt Nam?” của tác giả A. Một thiếu tá tình báo OSS được trực tiếp gặp Nguyễn Ái Quốc thời điểm năm 1945, đã kể về những sự kiện lịch sử, quan điểm của ông về các mối quan hệ, ảnh hưởng của chúng đối với cách mạng Việt Nam. “Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực” của tác giả David G.
Cuốn sách trình bày bối cảnh và diễn tiến cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, vào lúc lực lượng Việt Minh giành chính quyền và tuyên bố Việt Nam độc lập. Marr cho rằng: “Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, các sự kiện diễn ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào. Những đảng viên Cộng sản và những người tham gia Việt Minh ở địa phương đã giành nhiều thắng lợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trước những thay đổi đột ngột hơn là theo một kế hoạch điều khiển nào”. “Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào thời kỳ 1930-1945” của tác giả Nguyễn Trọng Phúc [132], thuộc Đề tài nghiên cứu khoa học “Khái quát sự hình thành và phát triển quan hệ 11 hai nước trong giai đoạn 1930-1945, rút ra một số bài học và kinh nghiệm”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Công trình đã nghiên cứu chi tiết quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào thời kỳ 1930-1945, phân tích những hoạt động thực tế của Đảng. “QTCS với Việt Nam” của tác giả A. Xô-cô-lốp [170]. Cuốn sách nêu nhiều tư liệu chứng minh sự giúp đỡ và ảnh hưởng của QTCS với ĐCSĐD và những cán bộ cách mạng Việt Nam đã học tập tại Liên Xô.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối của ĐCSĐD, tác động đến phong trào cách mạng Việt Nam. “QTCS và cách mạng Việt Nam” của TS. Hồ Thị Tố Lương [98]. Cuốn sách cho thấy rõ những ảnh hưởng của QTCS (1919-1943) đến Đảng và cách mạng Việt Nam cũng như những hạn chế của mối quan hệ này.
“OSS và Hồ Chí Minh-Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật” của tác giả Dixee R. Cuốn sách viết về mối quan hệ giữa Mỹ (cụ thể là Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ OSS - tiền thân của CIA) với Việt Minh trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền. Trong đó, đề cập cụ thể vai trò quan trọng của Hồ Chí Minh để thiết lập mối quan hệ này, đồng thời, tác giả viết về các mối quan hệ quốc tế đầu tiên của ĐCSĐD thông qua Mặt trận Việt Minh trong khối Đồng minh chống phát xít. “Sự tương đồng và khác biệt về quan điểm cách mạng Việt Nam giữa Hồ Chí Minh với QTCS và ĐCSĐD những năm 1930-1941” do PGS.
Nguyễn Khánh Bật chủ biên [12]. Cuốn sách đề cập tới những vấn đề quan hệ đối ngoại và các vấn đề về quan điểm, lý luận giữa ĐCSĐD và QTCS, là cơ sở để nghiên cứu sinh nghiên cứu sâu hơn về quan hệ đối ngoại giữa ĐCSĐD và QTCS. “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam (1930-2007)” của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào [44].