Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (1989 - 1998)" là luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 5.16), do nghiên cứu sinh Đinh Xuân Lý thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2002, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phùng Hữu Phú.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, trước những chuyển biến sâu sắc của quan hệ quốc tế khi trật tự hai cực sụp đổ, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện đường lối độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập vào tháng 11/1989, nhanh chóng mở rộng từ 12 thành viên sáng lập lên 21 thành viên vào năm 1998, đại diện cho khoảng 1/2 tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và 46% tổng kim ngạch mậu dịch toàn cầu. Việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, mở rộng hợp tác với khu vực và chính thức trở thành thành viên APEC vào tháng 11/1998 là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận APEC dưới góc độ kinh tế hoặc quan hệ song phương riêng lẻ; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình thiết lập quan hệ đa phương với tổ chức này. Do đó, việc nghiên cứu đề tài vừa có giá trị khoa học về lịch sử đối ngoại của Đảng, vừa mang ý nghĩa thực tiễn phục vụ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận án làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC; khẳng định hệ quả, ý nghĩa của đường lối đối ngoại đổi mới và rút ra các bài học kinh nghiệm cho tiến trình mở rộng hợp tác khu vực và quốc tế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm:
- Phân tích quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc giải quyết các trở ngại trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước châu Á - Thái Bình Dương;
- Phân tích việc giải tỏa những mặc cảm lịch sử với các nước láng giềng và các nước lớn (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản);
- Từng bước cải thiện quan hệ song phương với các nước Đông Nam Á, mở cửa giao lưu và hội nhập tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN);
- Tạo tiền đề cải thiện căn bản quan hệ giữa Việt Nam với các thành viên APEC, mở đường cho việc gia nhập tổ chức;
- Trình bày các bước phát triển thực tế trong quan hệ giữa Việt Nam với các thành viên APEC thời kỳ đổi mới;
- Phân tích ý nghĩa và tổng kết một số bài học kinh nghiệm từ quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quá trình giải quyết các trở ngại lịch sử để cải thiện quan hệ với các thành viên APEC, tạo tiền đề thiết lập quan hệ với APEC; cùng các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương phản ánh kết quả triển khai đường lối trên thực tế.
- Phạm vi không gian: Việt Nam, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và các quốc gia, vùng lãnh thổ thành viên của tổ chức APEC.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1989 (năm APEC thành lập) đến tháng 11/1998 (thời điểm Việt Nam chính thức được kết nạp làm thành viên của APEC).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả đã điểm lại và hệ thống hóa các tài liệu, công trình đã công bố trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:
(Allan E. Goodman, Bùi Thanh Sơn, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Khoan)
-
Các công trình nghiên cứu về khu vực học và các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương:
- Vũ Dương Ninh (1990), Vương quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
- Cơ quan Thông tin Hải ngoại Hàn Quốc (1994), bản dịch của Khoa Lịch sử Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội và NXB Chính trị Quốc gia (1995), Hàn Quốc lịch sử và văn hóa.
- D. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Chính trị Quốc gia.
Các công trình này cung cấp tri thức cơ bản về lịch sử, văn hóa, chính trị của các quốc gia trong khu vực.
-
Các công trình nghiên cứu về ASEAN và quan hệ Việt Nam - ASEAN:
- Vũ Dương Ninh (1993), Một số vấn đề về sự phát triển của các nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia.
- Phạm Đức Thành (chủ biên, 1996), Việt Nam - ASEAN, NXB Khoa học Xã hội.
- Đào Huy Ngọc (chủ biên, 1998), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.
- Phạm Đức Thành (chủ biên, 1998), Việt Nam - ASEAN: cơ hội và thách thức, NXB Chính trị Quốc gia.
- Nguyễn Đình Thực (2001), Luận án tiến sĩ Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ đối ngoại với ASEAN (1967-1995), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Các công trình phân tích tiến trình từ đối đầu sang đối thoại, hòa nhập và gia nhập ASEAN của Việt Nam năm 1995.
-
Các công trình nghiên cứu về tổ chức APEC:
- Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Singapore (1997), APEC những thách thức và cơ hội, NXB Chính trị Quốc gia.
- Bộ Thương mại (1998) và Bộ Ngoại giao (1998), các ấn phẩm chuyên khảo cùng tên APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.
- Lục Kiến Nhân (chủ biên, 1998), APEC với Trung Quốc và các thành viên chủ yếu khác, NXB Chính trị Quốc gia.
Các tài liệu này làm rõ sự ra đời, nguyên tắc vận hành và chính sách APEC của các nền kinh tế lớn.
-
Các nghiên cứu về quan hệ song phương và chính sách đối ngoại của Việt Nam:
- Dương Phú Hiệp (1993), "25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản", Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản.
- Nguyễn Thị Cẩm (1994), "Vài nét về quan hệ kinh tế, văn hóa Việt Nam - Đài Loan", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế.
- Allan E. Goodman (1994), "Quan hệ Việt - Mỹ: điều gì đang ở phía trước", Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế.
- Hoa Hữu Lân (1995), "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc", Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới.
- Nguyễn Xuân Thắng (1996), Việt Nam và các nước châu Á - Thái Bình Dương các quan hệ kinh tế hiện nay và triển vọng, NXB Khoa học Xã hội.
- Lưu Văn Lợi (1998), Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (tập 2), NXB Công an Nhân dân.
- Vũ Tuyết Loan (chủ biên, 1998), Ôxtrâylia ngày nay, NXB Khoa học Xã hội.
- Các bài viết tổng kết đường lối đối ngoại trên Tạp chí Cộng sản của Nguyễn Mạnh Cầm (1993, 2000), Vũ Khoan (1993), Vũ Hiền (1996); các bài phân tích đa phương của Bùi Thanh Sơn (1997), Lê Thu Hằng (1998).
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả xác định: Đa số các công trình trước đó dừng lại ở phân tích kinh tế thương mại đơn thuần hoặc quan hệ ngoại giao song phương giữa Việt Nam với từng nước riêng lẻ. Chưa có công trình khoa học lịch sử nào làm rõ một cách có hệ thống đường lối, chủ trương chỉ đạo của Đảng trong toàn bộ tiến trình từ phá thế bao vây cô lập, giải tỏa mặc cảm lịch sử, bình thường hóa quan hệ song phương với các nước thành viên cho đến khi chính thức gia nhập diễn đàn đa phương APEC. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án vận dụng quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời đại, quan hệ quốc tế, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan quá trình chuyển biến nhận thức, hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong từng giai đoạn cụ thể từ năm 1989 đến năm 1998.
- Phương pháp lôgích: Làm rõ mối liên hệ nhân quả, tính quy luật giữa đổi mới kinh tế đối nội với đổi mới chính sách đối ngoại; mối quan hệ biện chứng giữa giải quyết các bất đồng song phương với việc tham gia các cơ chế hợp tác đa phương.
- Các phương pháp kết hợp: Phân tích, tổng hợp văn kiện, thống kê dữ liệu kinh tế đối ngoại và đối chiếu, so sánh lịch sử để kiểm chứng hiệu quả thực tiễn của đường lối.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Luận án khai thác hệ thống tư liệu phong phú, bao gồm:
- Nguồn văn kiện Đảng: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX; các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng các báo cáo, tờ trình của Ban Cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng (trong đó có những tài liệu chưa công bố).
- Văn bản quản lý nhà nước, các hiệp định kinh tế - thương mại song phương và đa phương.
- Số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, các tổ chức quốc tế (GATT/WTO, IMF, WB) và Ban Thư ký APEC.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 161 trang văn bản chính (không kể phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo), kết cấu gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung (chia thành 8 tiết) và phần Kết luận.
Chương 1: Những cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC
Chương 1 (từ trang 17 đến trang 57) tập trung phân tích bối cảnh lịch sử quốc tế, khu vực và nhận thức mới của Đảng; sự ra đời, vị trí của APEC và nhu cầu bức thiết của Việt Nam trong việc mở rộng đối ngoại.
-
Bối cảnh thế giới và sự đổi mới nhận thức của Đảng:
- Cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 1990, khủng hoảng và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu dẫn tới sự tan rã của trật tự thế giới hai cực. Mỹ mưu toan thiết lập trật tự đơn cực nhưng xu thế đa cực hóa ngày càng khẳng định vị thế.
- Đảng nhận định tiêu chí đánh giá sức mạnh quốc gia chuyển trọng tâm từ quân sự sang sức mạnh tổng hợp, trong đó kinh tế và khoa học - công nghệ giữ vị trí quyết định. Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5/1988) đã kịp thời chỉ rõ: Các nước chuyển sang cùng tồn tại hòa bình, đối thoại và chạy đua kinh tế; Việt Nam cần nhanh chóng chuyển hướng chiến lược đối ngoại để phục vụ xây dựng kinh tế.
- Đại hội VIII của Đảng (1996) khái quát 5 xu thế quốc tế lớn: (1) Hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển; (2) Sự gia tăng liên kết kinh tế khu vực và quốc tế song song với cạnh tranh; (3) Nâng cao ý thức độc lập tự chủ; (4) Kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; (5) Vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các chế độ xã hội khác nhau.
-
Sự hình thành và vị trí của APEC:
- APEC thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng ở Canberra (Australia) từ ngày 6 đến 7/11/1989 với 12 thành viên sáng lập. Đến năm 1998, APEC có 21 thành viên, chiếm 56% GDP và 46% kim ngạch thương mại toàn cầu, diện tích trên 62 triệu km² và hơn 2,5 tỷ dân.
- Nguyên tắc hoạt động cốt lõi của APEC (xác lập qua Tuyên bố Seoul 1991): Cùng có lợi; đối thoại cởi mở, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; nguyên tắc đồng thuận (nhất trí); tự nguyện; không phân biệt đối xử và tuân thủ các nguyên tắc của GATT/WTO ("chủ nghĩa khu vực mở").
- Tiến trình phát triển quan trọng qua các Hội nghị Cấp cao: Seattle 1993 (chuyển hướng sang hợp tác kinh tế toàn diện); Bogor 1994 (mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2010 cho các nước phát triển và 2020 cho các nước đang phát triển); Osaka 1995 (thông qua Chương trình hành động Osaka); Manila 1996 (thông qua Kế hoạch hành động Manila - MAPA); Vancouver 1997; Kuala Lumpur 1998.
-
Vị trí và vai trò của APEC đối với nền kinh tế Việt Nam:
- Khối APEC chiếm tới 80% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam thời kỳ 1991-1995. 8 trong số 10 đối tác thương mại lớn nhất và 8 nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam thuộc APEC.
- APEC là nguồn cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam, trong đó Nhật Bản đứng vị trí thứ 1 và Hàn Quốc đứng thứ 5.
- Về cơ cấu thương mại, thị trường APEC tiêu thụ phần lớn hàng hóa xuất khẩu chủ lực và cung cấp hầu hết nguyên vật liệu công nghiệp trọng yếu cho Việt Nam:
| Nhóm mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang APEC |
Tỷ trọng xuất khẩu sang APEC (%) |
Nhóm mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ APEC |
Tỷ trọng nhập khẩu từ APEC (%) |
| Thiếc |
98,0% |
Xăng dầu |
97,8% |
| Cao su |
93,0% |
Caustic Soda |
88,0% |
| Tôm đông lạnh |
72,5% |
Động cơ điện (motor) |
84,5% |
| Hạt tiêu |
70,4% |
Thép |
80,0% |
| Cà phê |
61,0% |
Phân hóa học |
70,3% |
| Than đá |
55,3% |
Soda ash |
67,0% |
| Gạo |
54,0% |
Săm lốp |
65,0% |
| Chè |
32,7% |
Bông sợi |
58,0% |
- Nhu cầu tăng cường đối ngoại của Việt Nam: Nhu cầu cấp bách nhằm phá thế bao vây cấm vận, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở rộng thị trường tiêu thụ nông - lâm - thủy sản, tiếp cận nguồn vốn FDI, viện trợ ODA và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 2: Quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC theo đường lối chủ trương của Đảng (1989-1998)
Chương 2 (từ trang 58 đến trang 123) phân tích quá trình Đảng lãnh đạo từng bước giải quyết các trở ngại lịch sử và triển khai các hoạt động đối ngoại thực tiễn để tiến tới gia nhập APEC.
- Hoàn thiện đường lối đổi mới đối ngoại:
- Từ Đại hội VI (1986), Đảng xác định nhiệm vụ đối ngoại phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế. Đến Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (5/1988), Đảng chủ trương đa dạng hóa quan hệ, thực hiện chính sách "thêm bạn bớt thù". Đại hội VII (1991) nêu rõ định hướng: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới". Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (6/1992) đề ra chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa cụ thể. Đại hội VIII (1996) xác định chủ trương chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
- Giải tỏa các trở ngại và bình thường hóa quan hệ song phương:
- Vấn đề Campuchia: Việt Nam phối hợp với các bên thúc đẩy các vòng đàm phán JIM 1, JIM 2 tại Jakarta, hoàn thành rút quân tình nguyện về nước vào tháng 9/1989, ký kết Hiệp định Hòa bình Paris về Campuchia (10/1991), dỡ bỏ rào cản lớn nhất trong quan hệ quốc tế.
- Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Từng bước làm tan băng quan hệ sau cuộc gặp cấp cao Thành Đô (9/1990), chính thức bình thường hóa quan hệ nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt (11/1991).
- Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Tích cực hợp tác nhân đạo giải quyết vấn đề quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) và tù binh chiến tranh (POW). Đến tháng 2/1994, Hoa Kỳ tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận thương mại; ngày 11/7/1995, hai nước chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
- Quan hệ với các nước Đông Nam Á: Tham gia ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali) vào tháng 7/1992, trở thành quan sát viên của ASEAN và chính thức gia nhập ASEAN vào ngày 28/7/1995; tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).
- Quan hệ với các đối tác khác: Thúc đẩy phục hồi và phát triển quan hệ với Nhật Bản (Nhật nối lại ODA vào tháng 11/1992), Australia, Canada, Hàn Quốc và các nước Tây Âu.
- Tiến trình gia nhập APEC:
- Sau khi bình thường hóa quan hệ với toàn bộ các thành viên của APEC, Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập APEC vào tháng 6/1996.
- Đảng và Chính phủ tích cực tiến hành vận động ngoại giao song phương và đa phương, cử đoàn tham dự các ủy ban, nhóm công tác của APEC.
- Tại Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 6 tổ chức ở Kuala Lumpur (Malaysia) vào tháng 11/1998, Việt Nam chính thức được kết nạp làm thành viên đầy đủ của Diễn đàn APEC (cùng đợt với Nga và Peru).
Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm của quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC
Chương 3 (từ trang 124 đến trang 156) tổng kết ý nghĩa lịch sử của sự kiện và rút ra các bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo đối ngoại của Đảng.
- Ý nghĩa của quá trình Việt Nam tham gia APEC:
- Về chính trị và an ninh: Phá vỡ hoàn toàn thế bao vây, cô lập và cấm vận; củng cố môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực; nâng cao vị thế, uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Về kinh tế: Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu; tranh thủ dòng vốn FDI và nguồn vốn ODA từ các nền kinh tế phát triển hàng đầu; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận kỹ năng quản lý, công nghệ hiện đại.
- Về hội nhập quốc tế: Tham gia APEC đóng vai trò bước tập dượt quan trọng, tạo nền tảng thể chế và năng lực thực thi cam kết quốc tế để chuẩn bị cho tiến trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
- Các bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết:
- Thứ nhất: Nhận định đúng bối cảnh thời đại, nắm bắt chính xác xu thế hòa bình, hợp tác và toàn cầu hóa để kịp thời điều chỉnh đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.
- Thứ hai: Kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao song phương và ngoại giao đa phương; dùng kết quả bình thường hóa song phương với các nước lớn và các nước láng giềng làm nền tảng mở đường cho hoạt động đa phương.
- Thứ ba: Xử lý hài hòa giữa việc giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia với việc mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế theo các nguyên tắc đồng thuận, tự nguyện và linh hoạt.
- Thứ tư: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực đi đôi với việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài (vốn, thị trường, công nghệ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về tư liệu
- Luận án đã khai thác và hệ thống hóa khối lượng tư liệu lưu trữ phong phú, đa dạng, bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng các báo cáo chuyên đề của Ban Cán sự Đảng Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại từ Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng (trong đó có những tài liệu lần đầu được tiếp cận nghiên cứu).
- Bổ sung hệ thống bảng biểu, số liệu thống kê chi tiết phản ánh diễn biến kim ngạch thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA giữa Việt Nam với các nền kinh tế APEC trong giai đoạn 1989 - 1998.
Đóng góp về nội dung khoa học
- Làm sáng tỏ quá trình chuyển biến nhận thức, tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong thời kỳ đầu đổi mới.
- Phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống các chặng đường chỉ đạo thực tiễn của Đảng: từ việc tháo gỡ từng nút thắt trong quan hệ với Campuchia, Trung Quốc, Hoa Kỳ, ASEAN cho đến khi gia nhập APEC năm 1998.
- Khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa do Đảng khởi xướng từ Đại hội VI.
Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp cơ sở khoa học và bài học lịch sử cho các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quá trình tiếp tục tham gia sâu hơn vào các tổ chức đa phương như APEC, ASEM và tiến trình đàm phán gia nhập WTO.
- Luận án kiến nghị tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm hiện thực hóa hiệu quả các cam kết tự do hóa thương mại và đầu tư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài lịch sử Đảng (1989 - 1998), luận án dừng lại ở thời điểm Việt Nam vừa được kết nạp làm thành viên chính thức của APEC (tháng 11/1998). Vì vậy, công trình chưa đi sâu đánh giá quá trình triển khai các Kế hoạch hành động quốc gia (IAP) và sự tham gia cụ thể của Việt Nam vào các chương trình hợp tác chuyên ngành của APEC trong giai đoạn sau năm 1998.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo việc thực thi các cam kết Bogor và các chương trình thuận lợi hóa thương mại, đầu tư của APEC giai đoạn từ sau năm 1998.
- Đánh giá tác động thực tế của việc tham gia APEC đối với tiến trình đàm phán song phương và đa phương để gia nhập WTO của Việt Nam giai đoạn 1998 - 2006.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quan hệ quốc tế, Ngoại giao Việt Nam, Kinh tế quốc tế và Khu vực học; đặc biệt có thể sử dụng các chương 1, 2 và phần Phụ lục làm tư liệu giảng dạy.
- Cán bộ làm công tác đối ngoại và hoạch định chính sách: Tại các cơ quan ban ngành (Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Ban Đối ngoại Trung ương) nhằm tham khảo các bài học xử lý quan hệ giữa song phương và đa phương, nghệ thuật đàm phán và giải tỏa bất đồng lịch sử trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Sáng kiến thành lập Diễn đàn APEC ban đầu do quốc gia nào đưa ra và được chính thức thành lập vào thời gian nào?
Sáng kiến thành lập APEC do Thủ tướng Australia Bob Hawke đưa ra vào tháng 1/1989. Tổ chức APEC chính thức được thành lập tại Hội nghị cấp Bộ trưởng diễn ra ở Canberra (Australia) trong hai ngày 6 và 7/11/1989 với 12 thành viên sáng lập.
2. Tuyên bố Seoul (11/1991) đã xác định những nguyên tắc hoạt động cơ bản nào của APEC?
Tuyên bố Seoul xác định các nguyên tắc: (1) Cùng có lợi, có tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển và hệ thống chính trị - xã hội; (2) Đối thoại cởi mở, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; (3) Nguyên tắc nhất trí (đồng thuận) giữa các thành viên; (4) Nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt quyết định mang tính bắt buộc; (5) Phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO; (6) Mở cửa khu vực, không phân biệt đối xử với các nền kinh tế bên ngoài.
3. Tuyên bố Bogor (1994) quy định lộ trình thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư của APEC như thế nào?
Tuyên bố "Quyết tâm chung Bogor" (11/1994) cam kết hoàn thành mục tiêu thương mại, đầu tư tự do và mở cửa tại châu Á - Thái Bình Dương không chậm hơn năm 2020. Trong đó, các nền kinh tế phát triển đạt mục tiêu không chậm hơn năm 2010, còn các nền kinh tế đang phát triển đạt mục tiêu không chậm hơn năm 2020.
4. Khối APEC chiếm vị trí và tỷ trọng như thế nào trong nền kinh tế đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1991 - 1995?
Các nền kinh tế thành viên APEC chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam; chiếm 75% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); cung cấp phần lớn vốn ODA (Nhật Bản đứng thứ 1, Hàn Quốc đứng thứ 5); và 8 trong số 10 bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam thời kỳ này là các thành viên APEC.
5. Việt Nam chính thức được kết nạp làm thành viên đầy đủ của APEC vào thời gian nào và tại đâu?
Việt Nam chính thức được kết nạp làm thành viên đầy đủ của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/1998, tại Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 6 tổ chức ở Kuala Lumpur, Malaysia (cùng đợt với Nga và Peru).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đinh Xuân Lý đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đổi mới tư duy đối ngoại và chỉ đạo thực tiễn quá trình thiết lập quan hệ với APEC giai đoạn 1989 - 1998. Công trình đã làm nổi bật lộ trình giải quyết tuần tự các trở ngại lịch sử với các nước láng giềng, các nước lớn và khu vực Đông Nam Á, tạo tiền đề vững chắc cho việc đưa Việt Nam hội nhập vào diễn đàn kinh tế khu vực có quy mô lớn nhất thế giới. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp nguồn tư liệu lưu trữ quý giá cho chuyên ngành Lịch sử Đảng mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc về kết hợp ngoại giao song phương với đa phương, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.