Luận án tiến sĩ luật học vấn đề an ninh phi truyền thống trong pháp luật quốc tế thực tiễn asean và sự tham gia của việt nam trong asean

Luận án tiến sĩ luật học phân tích vấn đề an ninh phi truyền thống trong pháp luật quốc tế, thực tiễn ASEAN và vai trò của Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

251
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của an ninh phi truyền thống

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Nó bao gồm các mối đe dọa phi quân sự như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, và dịch bệnh. Pháp luật quốc tế chưa có định nghĩa chính thức về ANPTT, nhưng nó được nhắc đến trong nhiều văn bản hợp tác quốc tế. ASEAN đã nhận thức rõ tầm quan trọng của ANPTT và đưa vào chương trình nghị sự từ năm 2002. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác của ASEAN để đối phó với các thách thức này.

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

ANPTT xuất hiện từ sau Chiến tranh Lạnh, khi các mối đe dọa phi quân sự bắt đầu ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Sự kiện khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ đã làm nổi bật tầm quan trọng của ANPTT. Tại ASEAN, thuật ngữ này được chính thức ghi nhận trong Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc năm 2002. Pháp luật quốc tế đã dần hình thành các nguyên tắc và cơ chế hợp tác để đối phó với ANPTT.

1.2. Đặc điểm và mối quan hệ với an ninh truyền thống

ANPTT có tính xuyên quốc gia, đa dạng và phức tạp. Nó khác biệt với an ninh truyền thống vì không liên quan đến sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, hai khái niệm này có mối quan hệ chặt chẽ, vì cả hai đều nhằm bảo vệ an ninh quốc gia. ASEAN đã nhận thức rõ sự cần thiết của việc kết hợp cả hai loại an ninh để đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực.

II. Pháp luật và thực tiễn của ASEAN về an ninh phi truyền thống

ASEAN đã xây dựng nhiều cơ chế hợp tác để đối phó với ANPTT. Các văn bản pháp lý như Hiệp định AADMER và Công ước ACCT đã tạo nền tảng cho hợp tác khu vực. Việt Nam đã tích cực tham gia vào các cơ chế này, thể hiện vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh khu vực. Tuy nhiên, hiệu quả của các cơ chế này vẫn còn hạn chế do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các quốc gia.

2.1. Cơ chế hợp tác của ASEAN

ASEAN đã thiết lập nhiều cơ chế hợp tác như ADMM, AMMTC, và ARF để đối phó với ANPTT. Các cơ chế này tập trung vào các lĩnh vực như quản lý thiên tai, chống khủng bố, và an ninh hàng hải. Việt Nam đã đóng góp tích cực vào các cơ chế này, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thiên tai và chống tội phạm xuyên quốc gia.

2.2. Thách thức và hạn chế

Mặc dù có nhiều cơ chế hợp tác, ASEAN vẫn gặp nhiều thách thức trong việc đối phó với ANPTT. Các thách thức bao gồm thiếu nguồn lực, sự phối hợp kém hiệu quả giữa các quốc gia, và sự phức tạp của các mối đe dọa. Việt Nam cũng đối mặt với những khó khăn tương tự, đặc biệt là trong việc nội luật hóa các cam kết quốc tế.

III. Vai trò của Việt Nam trong ASEAN về an ninh phi truyền thống

Việt Nam đã thể hiện vai trò tích cực trong việc đối phó với ANPTT tại ASEAN. Quốc gia này đã tham gia vào nhiều cơ chế hợp tác và đóng góp vào việc xây dựng các chính sách an ninh khu vực. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện các cam kết quốc tế và nội luật hóa các quy định pháp lý.

3.1. Cam kết và thực tiễn

Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định và công ước quốc tế về ANPTT, bao gồm Hiệp định AADMER và Công ước ACCT. Quốc gia này cũng đã thực hiện nhiều biện pháp nội luật hóa các cam kết này, như ban hành Luật Phòng chống khủng bố và Luật Quản lý thiên tai. Tuy nhiên, việc thực hiện các cam kết vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu nguồn lực và sự phối hợp kém hiệu quả.

3.2. Phương hướng và giải pháp

Để tăng cường vai trò của mình trong việc đối phó với ANPTT, Việt Nam cần tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường nguồn lực, và cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Quốc gia này cũng cần đẩy mạnh hợp tác với các nước ASEAN và các đối tác chiến lược để đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực.

21/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học vấn đề an ninh phi truyền thống trong pháp luật quốc tế thực tiễn asean và sự tham gia của việt nam trong asean

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những van dé lý luận về an ninh phi truyền thống và pháp luật quốc tế về dam bảo an ninh phi truyền thống. Chương 2: Pháp luật và thực tiễn của ASEAN về đảm bảo an ninh phi truyền thống. Chương 3: Thực tiễn thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam trong ASEAN và phương hướng, giải pháp tăng cường sự tham gia của Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống ở khu vực ASEAN. 10 _ TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU | CAC VAN DE LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1.

NHUNG CONG TRINH NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN LUAN AN 1. Những công trình nghiên cứu về lý luận an ninh phi truyền thống ANPTT là một van dé không quá mới nhưng lại có đặc điểm “động”, xuất hiện và có thể biến mat theo sự phát triển của xã hội nhưng tiềm ân những mối de doa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia. Vì thế, ANPTT là một chủ đề thu hút sự quan tâm lớn của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đồng thời, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như chính tri, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, kinh tế,.

và dưới nhiều cấp độ khác nhau như tiếp cận theo cấp độ cá nhân, theo cấp độ quốc gia hay theo cấp độ hệ thống. Tổng quan nghiên cứu về lý luận ANPTT sẽ xem xét các công trình có liên quan từ nước ngoài đến trong nước. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong cuốn sách Governing borderless threats’ (Quản lý những vấn dé de dọa không biên giới) của tác giả Shahar Hameiri và Lee Jones, xuất bản năm 2015 bởi Nhà xuất bản Đại hoc Cambridge University. Phan 1, tác giả đưa ra các học thuyết về cách tiếp cận ANPTT, trong đó đề cập tới nguồn gốc ra đời của khái niệm ANPTT.

Theo tác giả, ANPTT là một vấn đề của thế giới đương đại, khi nó xuất hiện sau Chiến tranh Lạnh vào khoảng những năm 1980. Theo đó, khi thế giới phát triển theo hướng đa phương, mở rộng hơn đã kéo theo sự xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề có tính toàn cầu, xuyên biên giới đe dọa các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Điều này gây ra nhiều ý kiến tranh luận đặc biết là các cách tiếp cận đối với van dé về an ninh, ANPTT và quản trị ANPTT. Trong van dé nghiên cứu về an ninh và ANPTT, cuốn sách cũng nêu các trường phái khác nhau với các cách tiếp cận về van đề ANPTT khác nhau, trong đó nổi trội là các trường phái như Copenhagen thuộc lý thuyết chủ nghĩa kiến tạo, trường phái Paris (Paris School).

Đây là những trường phái có cách tiếp cận về an ninh và ANPTT mang lại những giá trị ảnh hưởng nhất định tới các chương trình nghị an ninh sau này của thế giới. Tuy nhiên, “Jones, L. The state transformation approach.In Governing Borderless Threats: Non-Traditional Security and the Politics of State Transformation (pp. Cambridge: Cambridge University Press.

II những trường phái nghiên cứu này cũng có những hạn chế khi các học giả bỏ qua việc nghiên cứu cách quản trị các mối đe doa khi nó được an ninh hoá (securitised). Đồng thời, những nhà nghiên cứu cũng không nhận ra các vấn đề đã được an ninh hoa (securitisation) không nhất thiết kéo theo tình trạng khan cấp. Thay vào đó, chúng ta có thê quan sát thấy sự đa dạng, phức tạp của các vấn đề ANPTT. Ngoài ra, việc xác định sự khác nhau về bản chất giữa ANTT và ANPTT cũng còn hạn chế.

Từ đó, tác giả đưa ra nhận định tính chất chính trị của các vấn đề ANPTT, đặt ra yêu cầu đối với các quốc gia trong quản tri ANPTT. Theo đó, ANPTT là các van dé có tính chất xuyên quốc gia, đòi hỏi hệ thống quản trị phải phán ánh được van dé này, quy mô quản trị quốc gia sẽ không đủ và thích hợp mà cần được xem xét trong mối quan hệ tập thé, mang tính toàn cau. Nhắc tới trường phái nghiên cứu về an ninh hoá Copenhagen School, phân tích chuyên sâu hơn về học thuyết an ninh hoá (Securitization theory) còn có tác giả Jonna Nyman với Chương 5 “Securitization theory” trong cuốn sách Critical Approaches to Security - An introduction to theories and methods” (Các cách tiếp cận quan trọng tới an ninh - Giới thiệu các hoc thuyết và phương pháp), được xuất bản bởi nhà xuất bản Rouledge năm 2013. Trong Chương 5 của cuốn sách trên, tác giả đưa ra nguồn gốc của học thuyết an ninh hoá, xuất phát từ đầu những năm 1990 bởi các học gia Barry Buzan, Ole Wever va Jaap de trong một nghiên cứu liên quan tới chương trình nghị sự an ninh mới ở châu Au năm 1993.

Kẻ từ đó, học thuyết an ninh hoá gắn liền với các cách thức tiếp cận an ninh mở rộng hơn so với khái niệm an ninh truyền thống và giới thiệu về các lĩnh vực an ninh mới như an ninh môi trường, kinh tế, xã hội,. Shepherd, Critical Approaches to Security - An introduction to theories and methods (T. “Barry Buzan, Ole Wever and Jaap de Wilde, Security: A New Framework for Analysis (Boulder, CO, 1997). The politics of studying securitization? The Copenhagen School in Turkey.

Revolutionary securitization: An anthropological extension of securitization theory. 12 Đồng quan điểm nghiên cứu theo cách tiếp cận của học thuyết Copenhagen về van dé an ninh hoá có các tác giả Stepka, M. (2022) với cuốn sách “Identifying Security Logics in the EU Policy Discourse” (Xác định an ninh hop lý trong Diễn đàn chính sách của EU) xuất bản năm 2022 bởi Nhà xuất bản Springer. Tại chương “The Copenhagen School and Beyond.

A Closer Look at Securitisation Theory” (Trường phái Copenhagen va các van dé khác. Xem xét kỹ hơn về hoc thuyết an ninh hoá), tác giả đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về trường phái an ninh Copenhagen và các đề xuất của trường phái này quanh lý thuyết an ninh hoá. Đi theo lối tư duy về cách tiếp cận ANPTT của trường phái Copenhagen còn có tác giả như Huysmans, 2006; Lazardis, 2011; Leonard & Kaunert, 2019; Van Munster, 2009 trong các nghiên cứu về quan hệ di cu - an ninh, nhóm tác giả Phi Dinh Hoang, Huy Quynh Nguyen, Ky Xuan Nguyen & Tuan Anh Hoang (2022). Ngoài ra, làm rõ quá trình nhận thức van đề ANPTT còn được đề cập tới như một van dé của thé gidi hién dai va xuất hiện sau thời ky Chiến tranh Lạnh, đặc biệt sau báo cáo của LHQ về nhận định 7 vấn đề liên quan tới an ninh con người.

Vấn đề này được được đề cập tới bởi nhiều tác giả khác nhau như: Shahar Hameiri, Lee Jones (2013), Cook (2017), Caballero-Anthony, M. Đối với các công trình nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm, cơ sở xuất hiện của ANPTT, có rất nhiều tác giả với các công trình khác nhau được công bố, tuy nhiên tiêu biểu và được NCS nghiên cứu phải ké tới các công trình sau: ANTT là khái niệm được nhắc tới trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh và là nội hàm của an ninh quốc gia. Tuy nhiên, trong thời kỳ đó, tác giả Bary Buzan đã đưa ra quan điểm cho rằng an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong nội hàm của ANTT ma cân mở rộng hơn về các lĩnh vực khác liên quan tới con người, tuy nhiên ’Stepka, M. (2022), The Copenhagen School and Beyond.A Closer Look at Securitisation Theory.

In: Identifying Security Logics in the EU Policy Discourse. IMISCOE Research Series.Springer, Cham, https://doi.1007/978-3-030-93035-6 2, truy cap ngay 05/4/2021. Shahar Hameiri, Lee Jones, The Politics and Governance of Non-Traditional Security, International Studies Quarterly, Volume 57, Issue 3, September 2013, Pages 462- 473, https://doi.12014, truy cập ngày 05/4/2021. "ADB Cook, (2017), Non-traditional security and world politics, Issues in 21st Century World Politics, 3nd Edition.

(2016), Non-traditional security concept, issues, and implications on security governance.Georgetown Journal of Asian Affairs, 3(1), 5-13. 13 lại chưa gọi tên được những lĩnh vực đó là ANPTT. Khi nhắc tới người đầu tiên đưa ra quan điểm gián tiếp đầu tiên về ANPTT, tác giả Richard Ullman'" (Đại học Princeton, Hoa Ky) đưa ra trong bài nghiên cứu năm 1983 của ông “Redefining Security”. Theo đó, Ullman cho rang, an ninh quốc gia nên hiểu theo nghĩa rộng hơn so với nội hàm ANTT.

Ullman cũng đưa ra những thách thức phi quân sự quốc gia phải đối mặt như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp. Tuy không xây dựng một định nghĩa về ANPTT nhưng quan điểm của Ulman cho thấy sự nhìn nhận về “an ninh phi truyền thống” là một phương diện mới của an ninh quốc gia bên cạnh ANTT. Cùng chung quan điểm nghiên cứu với Ullman có tác giả Mely Caballero Anthony'”, Từ Hoa Bình. Tác gia Saurabh Chaudhuri trong cuốn “Defining non - traditional security threats”'* (Định nghĩa về các mối de dọa ANPTT) đã lý giải về môi đe dọa ANPTT sau Chiến tranh Lạnh với sự tác động của toàn cầu hoá đã mở ra những khía cạnh mới của an ninh đó là việc dam bảo an ninh vượt ra ngoài khuôn khổ nhà nước và an ninh quân sự.

Sự sụp đô mô hình Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và các nước Đông Âu đã khiến cho môi trường quốc tế có sự chuyên đổi kéo theo chiến lược an ninh toàn cầu cũng có sự thay đổi theo hướng chuyền từ trong tâm sức mạnh quân sự (yếu tố quyết định trật tự thé giới trước đây) sang ANPTT liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Cũng theo tác giả, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã đánh dấu sự thay đổi trong nghiên cứu, phân tích về an ninh thế giới từ khuôn khổ truyền thống sang phi truyền thông. Như vậy, tác gia Saurabh Chaudhuri nhận diện ANPTT khác với ANTT ở tính chất vượt ra ngoải biên giới lãnh thé quốc gia và an ninh quân sự như quan niệm truyền thống trước đây và các thách thức này nỗi lên ké từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Cách tiếp cận này cũng tương tự như cách tiếp cận của tác giả Alistair Cook về ANPTT trong bài "Richard Ullman (1983), 'Redefining Security', International Security, Vol.

Ta Ngọc Tan, Phạm Thành Dung, Doan Minh Huấn (đồng chủ biên), An ninh phi truyền thống: Những van dé ly luận va thực tién, Nxb. Ly luận Chính tri, Ha Nội. ‘Saurabh Chaudhuri (2005), Defining non-traditional security _ threats, http://globalindiafoundation.org, truy cap ngay 05/4/2021. 14 viết “Non-traditional Security and World Politics” (ANPTT và chính trị thé giới)”, các tác giả Mely Caballerro Anthony va Alistair D.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "An ninh phi truyền thống trong pháp luật quốc tế: Vai trò của Việt Nam tại ASEAN" tập trung phân tích các thách thức an ninh phi truyền thống như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, và cách Việt Nam đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề này trong khuôn khổ ASEAN. Tài liệu nhấn mạnh vai trò chủ động của Việt Nam trong việc xây dựng và thực thi các cơ chế pháp lý quốc tế, đồng thời đề cao sự hợp tác đa phương để đảm bảo an ninh khu vực. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến luật pháp quốc tế, an ninh khu vực, và vai trò của Việt Nam trong ASEAN.

Để hiểu sâu hơn về các cơ chế hợp tác của ASEAN, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ luật học pháp luật cộng đồng ASEAN về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, nơi phân tích chi tiết các quy định pháp lý và thực tiễn áp dụng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học cơ chế hợp tác quốc phòng ASEAN và sự tham gia của Việt Nam cung cấp góc nhìn về hợp tác quốc phòng, một khía cạnh quan trọng của an ninh khu vực. Cuối cùng, Luận văn tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và ý nghĩa của nó đối với hoạt động ngoại giao Việt Nam với ASEAN giúp hiểu rõ hơn về nền tảng tư tưởng dẫn dắt chính sách đối ngoại của Việt Nam. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm các khía cạnh liên quan.