Chương 1. CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC DIEU CHỈNH CHÍNH SÁCH QUOC PHONG AN NINH CUA CÁC QUOC GIA ASEAN Chính sách quốc phòng an ninh là một thành tố quan trong trong tông thé các hệ thống chính sách của mỗi quốc gia. Chính sách quốc phòng an ninh được hiểu là toàn bộ các chủ trương, đường lối, chính sách của một quốc giai trên lĩnh vực quốc phòng an ninh nham bảo vệ, duy trì chủ quyền, toàn ven lãnh thé và giữ vững an ninh chính tri, an toàn xã hội. Đối với các quốc gia ASEAN, hoạt động điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh chịu tác động bởi hai nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài.
Trong đó, các nhân tố bên ngoài đóng vai trò quyết định căn bản, nhân tố bên trong đóng vai trò động lực thúc đây sự điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh của các nước ASEAN. Trong các nhân tố bên ngoài, nhân tố “Bối cảnh thế giới” là nhân tố chủ đạo, tác động trực tiếp, dẫn dắt các nhân tố khác. Nhân tố bên ngoài Từ năm 2010 đến 2020, tình hình quan hệ quốc tế trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Diễn biến nay tập trung vào một số đặc điểm chính như: Cạnh tranh giữa các nước lớn diễn ra ngày càng mạnh mẽ; chạy đua vũ trang diễn ra sôi nổi; các yếu tô an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp; khoa học kỹ thuật quân sự phát triển nhanh chóng tạo ra nhiều đột phá mới.
Đây là những nhân tố tác động tới sự điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh của các nước ASEAN. Boi cảnh thé giới Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, về tổng quan, quan hệ quốc tế chuyên sang xu hướng hoà bình, hợp tác, dân chủ hoá, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những bất ôn tại một số khu vực có vị trí địa chính tri quan trọng trên thế giới. 11 Đặc điểm chúng ta dé dàng nhận thay đó chính là trật tự hai cực lanta sup đồ, một trật tự thé giới mới đang dần hình thành theo xu hướng hợp tác, đa cực, đa trung tâm. Theo đó, xu hướng hop tác giữa các nước được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, quân sự và văn hoá với nhiều tầm mức khác nhau.
Sự xích lại gần nhau giữa các nước không phân biệt thê chế chính trị đang ngày càng được nhận thấy rõ ràng hơn. Những rào cản về hệ tư tưởng như trước đây đã không còn là điều kiện để các nước tăng cường hợp tác. Trong đó, hợp tác về kinh tế, quân sự là hai lĩnh vực nổi bật dé dang nhận thấy nhất. Chính sự hợp tác kinh tế cả về chiều rộng và chiều sâu đã tạo điều kiện quan trọng giúp các nước thu hẹp khoảng cách phát triển với nhau từ đó hình thành nên các trung tâm kinh tế, tài chính tại nhiều khu vực trên thế giới.
Xu hướng chuyên dịch kinh tế theo hướng Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam ngày càng rõ nét. Những xu hướng hợp tác này diễn ra trên phạm vi toàn cầu và Đông Nam Á là một trong những khu vực năng động hưởng ứng các xu thế trên. Trong quá trình hợp tác này, các nước Đông Nam Á tiếp nhận cả yếu tố tích cực và tiêu cực, trong đó yếu tô tích cực mang tính chủ đạo. Tuy nhiên, để hạn chế các yếu tố tiêu cực đồng thời tạo thế chủ động trong các tình huống có thé xảy ra, các quốc gia trong ASEAN luôn mong muốn nâng cao mọi mặt tiềm lực trong nước dé sẵn sang ứng phó, trong đó nâng cao và điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh là một trong các lĩnh vực được nhiều nước ở khu vực quan tâm.
Đặc điểm thứ hai đó là sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, trong đó khoa học kỹ thuật quân sự đạt được nhiều đột phá quan trọng. Những thay đổi này tác động trực tiếp tới tiến trình điều chỉnh quy mô, tô chức, hình thức chiến tranh. Hiện nay, các kỹ thuật đang được cường quốc quân sự như Mỹ, Nga, Trung Quốc, NATO tập trung phát triển gồm: Vũ khí laze năng lượng định hướng cao, công nghệ điều khiến chính xác, công nghệ phát hiện cảnh báo sớm, công nghệ động cơ tiên tiên, công nghệ vật liệu/chê tạo. Trong 12 đó, công nghệ vũ khí lade năng lượng cao đã thu được những tiến bộ mới.
Tháng 6/2015, Hải quân Mỹ đã trao hợp đồng cho hãng Northrop Grumman phát triển “Hệ thống nghiệm chứng vũ khí lade công suất cao thé rắn” (LWSD) cấp độ 1 Kilowatt (KW) để đối phó với các cuộc tấn công bởi tàu cao tốc, UAV, hệ thống tình báo, trinh sát, theo đõi của đối phương. Ngoài ra, Đức cũng đã hoàn thành thử nghiệm chung đối với nguyên mẫu vũ khí lade năng lượng cao cấp độ 10KW trên tàu hải quân vào tháng 2/2016, đã nghiệm chứng việc bắt bám đối với UAV, tàu mặt nước cỡ nhỏ và các mục tiêu cố định mặt đất [Hoàng Dat Bao, 2015, tr 30 - 38]. Đối với công nghệ điều khiến chính xác, các công nghệ như dẫn đường hình ảnh chủ động bằng lade, rađa mảng pha trên tên lửa, định vị dẫn đường, con quay hồi chuyển nguyên tử, dẫn đường terahertz., đã dan dần hoàn thiện và chuyên sang giai đoạn sản xuất, tăng cường đáng kế năng lực nhận biết mục tiêu, độ chính xác và năng lực chống nhiễu của tên lửa. Đối với công nghệ phát hiện cảnh báo sớm, các khái niệm mới, nguyên ly và các hệ thống mới như phát hiện sóng điện từ chuyên động xoáy, radar lượng tử, rađa lượng tử viba và phát hiện tia tử ngoại đã liên tục xuất hiện, mở ra con đường kỹ thuật mới trong cảnh báo và phát hiện sớm mục tiêu.
Đối với công nghệ vật liệu/chế tạo, các vật liệu cao cấp như graphen, vật liệu siêu tàng hình và vật liệu thông minh đã có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của tên lửa, không những vừa giúp hạ giá thành mà còn khiến chu kỳ sản xuất tên lửa được day nhanh hơn so với trước đây. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ quân sự vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với tất cả các nước trên thế giới. Với ASEAN, vấn đề này không tác động trực tiếp nhưng có ảnh hưởng nhất định tới sự điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh thể hiện trên hai phương diện. Phương diện tác động thứ nhất đó là tác động tới sự thay đổi cơ cấu tô chức, tỷ lệ biên chế giữa con người và trang bị trong thành phần lực lượng của từng quân đội các nước ASEAN.
Phương diện tác động thứ hai đó chính 13 là kích thích nhu cầu mua sắm để nâng cao năng lực quốc phòng của các nước ASEAN. Theo đó, tuỳ từng hướng ưu tiên nhiệm vụ quốc phòng an ninh mà mỗi nước ASEAN sẽ ưu tiên mua sắm các loại vũ khí trang bị theo nhu cầu của mình. Chính sự thay đổi này đã tác động tới sự điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh dé phù hợp với điều kiện tác chiến, môi trường chiến dau mới trong tương lai. Đặc điểm thứ ba đó là xu hướng khu vực hoá ngày càng rõ nét với nhiều thé chế khu vực được hình thành.
Nguyên nhân chính của xu hướng này đó chính là nhu cầu hợp tác, tìm kiếm cơ hội dé phát triển quốc gia. Theo đó, những quốc gia có nét chung về vị trí địa lý, văn hóa, xã hội hoặc có chung mục tiêu, lợi ích phát triển đã liên kết với nhau hình thành các tô chức liên kết theo khu vực hoặc theo lĩnh vực đặc thù. Hiện nay, trên thế giới, ở mỗi châu lục đều có tổ chức quốc tế khu vực hết sức đa dạng. Việc hình thành các thể chế khu vực đã tạo ra động lực thúc đây sự phát triển cả về kinh tế, chính trị, văn hóa của các quốc gia.
Tuy nhiên, xu thế này cũng tạo ra những khó khăn, thách thức cho các nước, đòi hỏi các nước phải nỗ lực giải quyết như tự chủ về kinh tế, quyền lực quốc gia, đặc biệt là việc cân băng lợi ích quốc gia với lợi ích chung của khu vực. Do đó, chính việc tham gia vào các tổ chức khu vực cũng là yêu cầu đòi hỏi các quốc gia ASEAN phải điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh. Một mặt, sự điều chỉnh này là dé thích nghi với môi trường hợp tác mới những nó cũng là yêu cầu, điều kiện dé các nước có thêm tham gia vào một tô chức hợp tác khu vực chung nào đó. Đặc điểm thứ tu đó là dù các cuộc chiến tranh quy mô lớn ít có khả năng xảy ra, tuy nhiên xung đột cục bộ, xung đột sắc tộc, ly khai, xung đột tôn giáo vẫn diễn ra tại nhiều điểm nóng trên thế giới với tính chất, quy mô đa dạng, phức tạp.
Trong khi đó, vẫn chưa có một tổ chức, cơ chế quốc tế nào đủ sức đứng ra giải quyết hoàn toàn các xung đột này. Mặc dù các cuộc xung đột cục bộ, sac tộc, ly khai, tôn giáo diễn ra chủ yêu ở khu vực Trung Đông, Băc 14 Phi, Đông Bac A - nơi có vị trí địa lý cách xa khu vực Đông Nam Á, tuy nhiên những ảnh hưởng tư tưởng cực đoan của các phong trào này đã tác động không nhỏ tới tình hình an ninh chính trị nội bộ của các nước ASEAN. Những phong trào và các cuộc xung đột ở Trung Đông, Bắc Phi còn là hình mẫu dé các phần tử cực đoan ở Đông Nam Á vận dụng vào thực tiễn hoạt động ở khu vực. Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ yếu của các cuộc biéu tình lật đồ ở Trung Đông, Bắc Phi là do chính phủ đương nhiệm tham nhũng, các vi phạm về nhân quyền, đói nghèo diễn ra liên tục trong thời gian dài khiến đời song nhân dân tổn hại nghiêm trọng.
Đây cũng là những nguyên nhân tiềm ân và hiện hữu tại khu vực Đông Nam Á. Do đó, đặc điểm này cũng là một trong các tác nhân chi phối gián tiếp, ảnh hưởng tới tư tưởng mong muốn điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh của các nước ASEAN. Ở góc độ nhất định, sự điều chỉnh chính sách quốc phòng an ninh của các nước ASEAN không những nhằm đối phó với sự thay đổi tình hình bên ngoài mà quan trọng hơn chính là nhằm ổn định tình hình chính trị trong nước. Đặc điểm thứ năm đó là xu hướng gia tăng lực lượng và chi phí an ninh quốc phòng trên phạm vi thế giới.
Hiện nay, chạy đua vũ trang đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn.