chương 1 của cuốn sách, nhóm tác giả đã đưa ra quan điểm, nhận thức luan an 22 mới về chủ quyền quốc gia trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế; đồng thời chỉ rõ cơ sở pháp lý và quá trình chia sẻ chủ quyền quốc gia trong hội nhập. Ở chương 2, nhóm tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng chia sẻ chủ quyền quốc gia giữa các nước thành viên với Liên minh châu Âu. Từ đó, trong chương 3, đề xuất một số gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam: 1) hội nhập vào các thể chế quốc tế làm suy giảm quyền tự trị pháp lý của nước quốc gia; 2) hội nhập khu vực và tham gia vào các thể chế quốc tế tạo ra những áp lực cải cách, ảnh hưởng quan trọng đến cấu trúc chính trị trong nước; 3) hội nhập khu vực và tham gia vào các thể chế quốc tế tạo thuận lợi cho những thay đổi, cải cách chính trị trong nước; 4) hội nhập khu vực và tham gia vào các thể chế quốc tế làm giảm chi phí giải quyết các vấn đề và hợp tác giữa các nước, tạo thuận lợi cho hợp tác đa phương; 5) hội nhập khu vực và tham gia vào các thể chế quốc tế ảnh hưởng đến hành vi của các quốc gia; 6) hội nhập khu vực và tham gia vào các thể chế quốc tế ở một khía cạnh nhất định làm suy giảm tính chính danh/ “chủ quyền quốc gia” của nhà nước quốc gia; 7) chủ động gắn kết hội nhập khu vực với toàn cầu. Hoàng Phúc Lâm (2022), “Hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước” [50].
Bài viết tập trung làm rõ cơ sở khoa học, giải pháp thúc đẩy thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, để nâng cao hiệu quả hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tác giả cho rằng cần phải bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế pháp luật, rà soát thực hiện các đề án, chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy hội nhập quốc phòng, an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Do còn có những hạn chế nhất định trong việc khai thác các nguồn tài liệu, nhưng qua tiếp cận các tài liệu trên, Nghiên cứu sinh nhận thấy, đây là nguồn tư liệu quý, được nghiên cứu công phu, nghiêm túc, phản ánh khá đầy đủ, chân thực đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, qua tổng quan cho thấy còn không ít quan điểm và sự kiện khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đặc biệt là việc thống nhất luan an 23 về khái niệm, nội hàm hội nhập quốc tế.
Chính từ đó đặt ra những vấn đề cần được nghiên cứu, lý giải. Các công trình nghiên cứu hội nhập quốc tế về quốc phòng Bùi Xuân Anh (2018), “Các cơ chế hợp tác quốc phòng - an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương đối với hòa bình, ổn định và sự tham gia của Việt Nam” [2]. Theo tác giả, các cơ chế hợp tác quốc phòng - an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương hiện nay được chia làm hai loại. Một là, các cơ chế do ASEAN giữ vai trò dẫn dắt, điều phối như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+); Hai là, các cơ chế đa phương khác như: Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á (Đối thoại Shang-ri La), Đối ngoại quốc phòng Xơ-un (SDD), Diễn đàn Hương Sơn… Hiện nay các cơ chế này đang hoạt động bổ xung cho nhau, góp phần vào việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Dù trên cương vị chủ trì, hay thành viên Việt Nam luôn nỗ lực cùng các nước thành viên xây dựng các cơ chế hợp tác thiết thực, hiệu quả. Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, Việt Nam cam kết, tích cực là thành viên có trách nhiệm để duy trì và thúc đẩy hợp tác quốc phòng, an ninh vì một khu vực châu Á - Thái Bình Dương năng động và thịnh vượng. Trần Anh Tuấn (2019), “Khái quát chung về hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay” [91]. Trong bài viết, tác giả cho rằng: Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh là việc các quốc gia tham gia vào quá trình gắn kết cùng nhau trong mục tiêu tăng cường sức mạnh phòng thủ của quốc gia mình, duy trì hòa bình và an ninh của các quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số phương thức hội nhập về quốc phòng, an ninh hiện nay như: hiệp ước liên minh quân sự song phương; hiệp ước phòng thủ chung hay hiệp định đa phương về hợp tác quân sự; phương thức dàn xếp an ninh tập thể… luan an 24 Nguyễn Bá Dương (2020), “Đường lối của Đảng đối với hội nhập quốc tế về quốc phòng: Thành tựu và định hướng” [20]. Trong bài viết, tác giả khẳng định: Hội nhập quốc tế về quốc phòng là một bộ phận HNQT của Việt Nam, là chủ trương mang tầm chiến lược, là sự phát triển tư duy lý luận chính trị - quân sự trên nền tảng mới của Đảng, phù hợp với xu thế thời đại, quy luật vận động, phát triển, vì lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, lợi ích các nước trong khu vực và thế giới [20, tr. Trên cơ sở khái quát thành tựu, bài học kinh nghiệm trong HNQT về quốc phòng tác giả cho rằng, để nâng cao hiệu quả HNQT về quốc phòng trong thời gia tới cần phải nắm vững quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ HNQT về quốc phòng đã được Đảng ta xác định. Theo đó, cần chú trọng đẩy mạnh quan hệ, hợp tác quốc phòng cả song phương, đa phương; thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận, điều ước quốc tế, nhất là tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Theo tác giả, hợp tác quốc phòng đa phương là một trong những hoạt động ngoại giao có sự tham gia, phối hợp của ít nhất ba chủ thể quan hệ quốc tế trở lên trong các cơ chế quốc phòng - an ninh đa phương để thực hiện những mục tiêu an ninh chung. Qua khảo sát, đánh giá thực trạng hợp tác quốc phòng đa phương ở châu Á - Thái Bình Dương từ năm 1994 đến năm 2019, tác giả cho rằng các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương ở khu vực cho đến nay đã có những đóng góp nhất định trong việc định hình cấu trúc an ninh khu vực, bước đầu dung hòa và cân bằng lợi ích giữa các nước lớn, góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định tương đối cho khu vực. Tuy nhiên, các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương ở khu vực còn tương đối lỏng lẻo, tính ràng buộc của các nguyên tắc, luật chơi chưa cao, cơ chế cưỡng chế chưa hiệu quả. Do đó, để hài hòa giữa lợi ích với các nước trong khu vực, đảm bảo phát huy vai trò của các nước nhỏ, phù hợp với đặc điểm, lợi ích của mình, Việt Nam cần tích cực, chủ động định hình định dạng luan an 25 hợp tác quốc phòng đa phương theo hướng đan xen, đa tầng nấc, cân bằng quyền lực, tránh rơi vào thế đối đầu, bất lợi.
Hoàng Đình Nhàn (2021), Đối ngoại quốc phòng [70]. Kế thừa các sản phẩm khoa học trước đó, tác giả quan niệm: Đối ngoại quốc phòng Việt Nam là hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng do Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp tiến hành bằng phương pháp đàm phán và các hình thức hòa bình khác nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về đối ngoại và quốc phòng trong từng thời kỳ cách mạng [70, tr. Trên cơ sở lý luận, thực trạng triển khai chính sách đối ngoại quốc phòng Việt Nam từ năm 2001 đến 2016, để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại quốc phòng Việt Nam tác giả đưa ra một số khuyến nghị, bao gồm: tiếp tục đổi mới tư duy về đối ngoại quốc phòng; đa dạng hóa các hình thức, nội dung đối ngoại quốc phòng; đẩy mạnh công tác xây dựng Ngành; nâng cao chất lượng công tác sơ, tổng kết đối ngoại quốc phòng và phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan đối ngoại quốc phòng với các bộ, ngành liên quan. Hoàng Xuân Chiến (2022), “Nâng tầm đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới ” [18].
Trong bài viết, tác giả khẳng định, đối ngoại quốc phòng là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trong thời gian qua, công tác đối ngoại quốc phòng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và QĐND Việt Nam trên trường quốc tế. Để nâng cao hiệu quả hoạt động ĐNQP trong thời gian tới, theo tác giả cần tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và điều hành của Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức của các chủ thể về ĐNQP; nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và luan an 26 tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng; tiếp tục nâng cao hiệu quả ĐNQP song phương, đa phương; hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. kiện toàn đội ngũ cán bộ và làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại quốc phòng. Tác giả bài viết cho rằng, hội nhập về quốc phòng, an ninh của Việt Nam là sự tham gia vào quá trình gắn kết Việt Nam với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh.