Tổng quan luận án
Quan hệ giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ) và Cộng hòa Cuba là một trong những mối quan hệ song phương có diễn biến phức tạp và kéo dài tình trạng căng thẳng trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại. Sau hơn nửa thế kỷ đóng băng và đối đầu kể từ năm 1961, sự điều chỉnh chính sách của hai quốc gia trong giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh đã mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 2015. Luận án tiến sĩ lịch sử "Quan hệ Mỹ - Cuba (1991 - 2016)" do nghiên cứu sinh Lê Minh Giang thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2020), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Công Khanh và PGS.TS. Hoàng Khắc Nam, thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới (mã số: 9229011), đi sâu nghiên cứu và phục dựng toàn diện tiến trình này.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc năm 1991, trật tự thế giới chuyển biến từ lưỡng cực sang đơn cực và dần định hình xu thế đa cực, hợp tác và hòa hoãn trở thành dòng chảy chính trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì và thắt chặt lệnh cấm vận đối với Cuba thông qua các văn bản pháp lý như Đạo luật Dân chủ Cuba (CDA năm 1992) và Đạo luật Helms - Burton (năm 1996). Bước sang thế kỷ XXI, những chuyển biến về bối cảnh quốc tế, phong trào cánh tả tại Mỹ Latinh cùng nhu cầu nội tại của mỗi nước đã thúc đẩy hai bên từng bước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, dẫn tới sự kiện lịch sử ngày 17/12/2014 khi Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Raúl Castro tuyên bố khôi phục quan hệ ngoại giao.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Ở Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận mối quan hệ này qua các bài viết tạp chí mang tính thời sự hoặc lồng ghép trong các nghiên cứu rộng hơn về chính sách đối ngoại chung của Mỹ hoặc tình hình Mỹ Latinh. Chưa có một công trình chuyên khảo nào ở trong nước nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về quan hệ Mỹ - Cuba trong suốt 25 năm hậu Chiến tranh Lạnh (1991 - 2016) trên cả hai bình diện chính trị - ngoại giao và kinh tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích bao trùm của luận án là làm rõ thực chất sự vận động, chuyển biến của quan hệ Mỹ - Cuba từ năm 1991 đến năm 2016, đồng thời lý giải nguyên nhân dẫn đến sự vận động và thay đổi đó.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ lịch sử nghiên cứu về quan hệ Mỹ - Cuba trên thế giới và ở Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các công trình đi trước nhằm kế thừa, bổ sung tư liệu mới và lấp đầy các khoảng trống khoa học.
- Nhiệm vụ thứ hai: Làm rõ các nhân tố tác động (bối cảnh quốc tế, khu vực và nhân tố chủ quan nội tại từ Mỹ và Cuba) đến mối quan hệ song phương từ sau Chiến tranh Lạnh đến năm 2016.
- Nhiệm vụ thứ ba: Tập trung phân tích thực trạng quan hệ Mỹ - Cuba qua hai giai đoạn: 1991 - 2008 (giai đoạn tiếp tục căng thẳng nhưng manh nha các nhân tố điều chỉnh) và 2009 - 2016 (giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ dẫn tới bình thường hóa quan hệ) trên hai lĩnh vực trọng tâm là chính trị - ngoại giao và kinh tế.
- Nhiệm vụ thứ tư: Đưa ra đánh giá, nhận xét khoa học về thành tựu, hạn chế, đặc điểm của quan hệ Mỹ - Cuba (1991 - 2016); phân tích nguyên nhân thúc đẩy và tác động đa chiều của tiến trình bình thường hóa đối với Mỹ, Cuba, khu vực Mỹ Latinh và hệ thống quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ song phương giữa Mỹ và Cuba giai đoạn 1991 - 2016.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai lĩnh vực chủ yếu là quan hệ chính trị - ngoại giao (các cuộc tiếp xúc, đàm phán, thỏa thuận, bất đồng và tiến trình bình thường hóa) và quan hệ kinh tế (chính sách cấm vận, quan hệ thương mại, đầu tư, nông nghiệp, du lịch). Các khía cạnh văn hóa - xã hội được tiếp cận như nhân tố xúc tác hỗ trợ cho quan hệ chính trị và kinh tế.
- Phạm vi không gian: Không gian quan hệ song phương Mỹ - Cuba, đặt trong sự tương tác với khu vực Mỹ Latinh và bàn cờ địa chính trị thế giới.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1991 - 2016. Mốc mở đầu 1991 đánh dấu thời điểm Liên Xô sụp đổ, Chiến tranh Lạnh kết thúc làm thay đổi nhận thức chiến lược của hai nước. Mốc kết thúc 2016 gắn liền với thời điểm khép lại nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barack Obama – giai đoạn hoàn tất các bước đi căn bản trong việc tái lập quan hệ ngoại giao chính thức. Tiến trình nghiên cứu được phân kỳ thành hai giai đoạn: 1991 - 2008 và 2009 - 2016, có khảo cứu khái quát bối cảnh lịch sử trước năm 1991 để bảo đảm tính liên tục.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Nhóm nghiên cứu gián tiếp:
- Về chính sách đối ngoại và an ninh của Mỹ: Lê Bá Thuyên (1997) với Hoa Kỳ: Chiến lược cam kết và mở rộng; Trần Bá Khoa (2001) với Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ cho thế kỷ XXI; Lê Linh Lan (2004) với Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay; Nguyễn Thái Yên Hương (chủ biên, 2003) phân tích cơ chế trừng phạt trong Vấn đề trừng phạt kinh tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Can thiệp nhân đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ (2000); Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên, 2002, 2003) với các công trình về kinh tế và đối ngoại Mỹ sau sự kiện 11/9/2001; Hoàng Khắc Nam (2012) với bài viết xác định vai trò của Mỹ trong trật tự thế giới trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay.
- Về Cuba và phong trào cánh tả Mỹ Latinh: Đề tài cấp Nhà nước do Nguyễn Ngọc Long làm chủ nhiệm (2006) về triển vọng chủ nghĩa xã hội; Vũ Quang Minh (chủ biên, 2008) với Chủ nghĩa xã hội hiện thực trong quan hệ quốc tế; các bài viết của Ngô Chí Nguyện (2007), Nguyễn Trinh Nghiệu (2007), Văn Ngọc Thành và Nguyễn Thanh Tuấn (2009) về "Thời kỳ đặc biệt trong hòa bình" và cải cách kinh tế của Cuba; Thái Văn Long (2009) về quan hệ giữa Cuba và các chính phủ cánh tả Mỹ Latinh; Lê Lan Anh (2009) về việc Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) bãi bỏ Nghị quyết 1962; luận án tiến sĩ của Lộc Thị Thủy (2018) về cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ở Cuba giai đoạn 1991 - 2016.
Nhóm nghiên cứu trực tiếp:
Gồm các bài báo khoa học chuyên khảo của Lê Thế Mẫu (2015) phân tích bình thường hóa quan hệ dưới lăng kính địa chính trị; Lê Duy Thắng và Trần Tuấn Sơn (2015) đánh giá bước ngoặt lịch sử năm 2014; Nguyễn Thùy Dương (2015) về triển vọng quan hệ hai nước; Lộc Thị Thủy (2016) phân tích chuyến thăm La Habana của Tổng thống B. Obama; Đỗ Thị Thảo (2016) chỉ ra các rào cản cấm vận kinh tế; Võ Minh Tập (2017) nghiên cứu tiến trình bình thường hóa trên các lĩnh vực thương mại, du lịch, ngân hàng, viễn thông.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Về chiến lược của Mỹ và chuyển biến tại Cuba: Randal B. Ripley và James M. Lindsay với U.S Foreign Policy after the Cold War; Thomas H. Henriksen biên soạn Foreign Policy for America in the Twenty-first Century; Bruce W. Jentleson với American Foreign Policy: The Dynamics of Choice in the 21st Century; Thomas M. McCormick với America's Half-Century; Richard E. Feinberg nghiên cứu kinh tế Cuba; Collin Laverty (2011) với báo cáo cho Trung tâm Dân chủ châu Mỹ (CDA) về cải cách kinh tế dưới thời Raúl Castro.
- Nghiên cứu trực tiếp quan hệ Mỹ - Cuba: Tim Lynch, Necati Aydin và Julie Harrington (2004) ước tính các kịch bản kinh tế hậu cấm vận; Eric Hershberg và William M. LeoGrande (2016) với công trình A New Chapter in US-Cuba Relations; Luis E. Rumbaut phân tích nguồn gốc xã hội của quan hệ song phương; Asa McKercher (2015) nghiên cứu vai trò trung gian hòa giải của Canada; Ted Piccone (2015) đánh giá tác động chiến lược của việc bình thường hóa đối với an ninh quốc gia Mỹ; Steven Zahniser cùng nhóm tác giả Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2015) phân tích thương mại nông nghiệp; các báo cáo định kỳ của Mark P. Sullivan thuộc Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS, 2011, 2014); ấn phẩm nghiên cứu của Đại học Essex (Vương quốc Anh, 2015); bài viết của Laura Puccio (Italia, 2015); các nghiên cứu của Alessandro Badella (Đại học Genoa, 2011, 2015) về chính sách thúc đẩy dân chủ của Mỹ; Koçak Canberk (Bồ Đào Nha, 2016) về vai trò của các nhóm lợi ích chính trị tại Mỹ.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình quốc tế chủ yếu đứng trên lập trường và lợi ích của Mỹ, hoặc mang tính phân tích chính sách ngắn hạn cho nghị viện. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào tổng kết toàn diện bức tranh quan hệ Mỹ - Cuba suốt 25 năm (1991 - 2016) kết hợp phân tích đa tầng nấc từ chính sách, thực tiễn triển khai đến các tác động địa chính trị khu vực và toàn cầu. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu hệ thống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề quốc tế.
Khung phân tích của đề tài tiếp cận quan hệ song phương từ hai chiều:
- Chiều hoạch định và thực thi chính sách của giới lãnh đạo mỗi nước đối với đối tác.
- Chiều phản ứng và điều chỉnh chính sách của mỗi bên trước các bước đi của đối phương.
Nội dung nghiên cứu được triển khai đồng thời qua 4 cấp độ phân tích trong quan hệ quốc tế:
- Cấp độ cá nhân (vai trò của các nguyên thủ quốc gia: Fidel Castro, Raúl Castro, Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama).
- Cấp độ quốc gia/nội bộ (chính trị nội bộ, nhóm lợi ích người Mỹ gốc Cuba, tiến trình cải cách kinh tế - xã hội tại Cuba).
- Cấp độ hệ thống khu vực (cục diện chính trị Mỹ Latinh, phong trào cánh tả, các tổ chức OAS, ALBA, UNASUR, MERCOSUR).
- Cấp độ toàn cầu (trật tự thế giới hậu Chiến tranh Lạnh, sự cạnh tranh ảnh hưởng của Nga, Trung Quốc, Liên minh châu Âu).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình quan hệ theo trật tự thời gian khách quan, logic cụ thể của các sự kiện ngoại giao, kinh tế) kết hợp với phương pháp logic (phân tích bản chất, quy luật vận động, tìm ra các nguyên nhân cốt lõi và đặc điểm đặc thù của mối quan hệ).
- Phương pháp liên ngành và bổ trợ: Phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu chính sách giữa các thời kỳ tổng thống Mỹ và lãnh đạo Cuba), phương pháp thống kê và xử lý số liệu kinh tế - thương mại.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Luận án khai thác hai khối tư liệu chính:
- Tài liệu gốc: Các văn kiện, đạo luật chính sách được công bố chính thức của Chính phủ và Quốc hội Mỹ (Đạo luật Hỗ trợ nước ngoài 1961, Đạo luật CDA 1992, Đạo luật Helms - Burton 1996, Đạo luật TSRA 2000, Tuyên bố ngày 17/12/2014); các tuyên bố, thông cáo chung giữa hai nước; bài phát biểu và báo cáo của các nguyên thủ quốc gia; dữ liệu từ Cổng thông tin Chính phủ Mỹ, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS).
- Tài liệu tham khảo: Các công trình chuyên khảo, luận án tiến sĩ trong và ngoài nước; các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Cộng sản, Châu Mỹ ngày nay); các bản tin phân tích của Viện Thông tin Khoa học xã hội và Thông tấn xã Việt Nam (Tin tham khảo đặc biệt, Tin Thế giới).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 khái quát và phân loại toàn bộ hệ thống tài liệu nghiên cứu về đề tài ở trong nước và quốc tế thành các nhóm vấn đề: nghiên cứu gián tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ và Cuba, nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Mỹ - Cuba sau năm 1991. Tác giả đánh giá những kết quả khoa học đã đạt được của các học giả đi trước, đồng thời chỉ rõ những hạn chế về độ bao quát thời gian và tính hệ thống của các tài liệu hiện có, từ đó xác định các nhiệm vụ khoa học trọng tâm mà luận án cần giải quyết.
Chương 2: Quan hệ Mỹ - Cuba từ năm 1991 đến năm 2008
Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử quan hệ hai nước từ thời điểm Chiến tranh Lạnh kết thúc đến hết nhiệm kỳ của Tổng thống George W. Bush và thời điểm Fidel Castro chuyển giao quyền lực cho Raúl Castro.
1. Bối cảnh lịch sử và nhân tố chi phối:
- Khái quát giai đoạn trước năm 1991: Phân tích tư tưởng chi phối của Mỹ từ thế kỷ XIX (Học thuyết Monroe 1823, quan điểm xem Cuba là "phụ thuộc tự nhiên" của J.Q. Adams hay "sự bổ sung thú vị" của T. Jefferson); giai đoạn chiếm đóng và khống chế qua Điều khoản Platt (1906 - 1909, 1912, 1917) và chế độ F. Batista; bước ngoặt Cách mạng Cuba năm 1959; sự kiện Vịnh Con Lợn (17/4/1961); việc Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao (03/01/1961); lệnh cấm vận toàn diện (Bản tuyên bố 3447 năm 1962); Khủng hoảng tên lửa Cuba (10/1962); chính sách hạn chế thời R. Reagan (Sáng kiến Lòng chảo Caribe - CBI năm 1982 với 350 triệu USD viện trợ kinh tế, 60 triệu USD viện trợ quân sự; siết chặt kiều hối năm 1986).
- Tình hình thế giới và khu vực: Liên Xô sụp đổ, chấm dứt trợ cấp kinh tế cho Cuba (tháng 01/1991); sự mở rộng của làn sóng toàn cầu hóa và khu vực hóa (AFTA, NAFTA, CAFTA, MERCOSUR); Đại hội đồng Liên Hợp Quốc liên tục bỏ phiếu thông qua nghị quyết phản đối Mỹ cấm vận Cuba từ năm 1992 với số phiếu ủng hộ tăng dần; sự trỗi dậy của phong trào cánh tả tại Mỹ Latinh với chiến thắng của Hugo Chávez (Venezuela năm 1998, 2004), Tabaré Vázquez (Uruguay năm 2004), Ricardo Lagos (Chile năm 2000), Lula da Silva (Brazil năm 2002), Néstor Kirchner (Argentina năm 2003); sự thành lập các liên kết khu vực mới (ALBA, UNASUR).
| Năm bỏ phiếu tại ĐHĐ LHQ |
Số phiếu ủng hộ yêu cầu Mỹ bãi bỏ cấm vận Cuba |
| 1992 |
59 |
| 2004 |
179 |
| 2005 |
182 |
| 2007 |
184 |
| 2008 |
185 |
- Tình hình nước Mỹ: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục trong thập niên 1990 dưới thời B. Clinton (chiếm 31,2% GDP toàn cầu); ngân sách quốc phòng tăng mạnh qua các năm; sau sự kiện 11/9/2001, chính quyền G.W. Bush chuyển hướng chiến lược sang cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, xếp Cuba vào diện các quốc gia cần gây sức ép chuyển đổi thể chế dân chủ.
| Năm |
Ngân sách quân sự của Mỹ (Tỷ USD) |
| 2000 |
429,45 |
| 2001 |
432,94 |
| 2005 |
631,78 |
| 2008 |
707,15 |
- Tình hình Cuba: Rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng sau khi mất thị trường Liên Xô và Đông Âu (vốn chiếm 75% và 15% tổng kim ngạch nhập khẩu); sản lượng đường sụt giảm từ 8,4 triệu tấn (năm 1990) xuống mức thấp; Chủ tịch Fidel Castro tuyên bố "Giai đoạn đặc biệt trong thời bình" (mùa hè năm 1990); tiến hành cải cách có kiểm soát từ năm 1994 đến 2000 (tăng trưởng GDP đạt bình quân 3,7%/năm, năm 2005 đạt 11%, năm 2006 đạt 12%); tiếp nhận nguồn kiều hối 1,4 - 2 tỷ USD/năm; ký Hiệp định hợp tác toàn diện với Venezuela năm 1999 để nhận nguồn cung dầu mỏ.
2. Thực trạng quan hệ (1991 - 2008):
- Về chính trị - ngoại giao: Duy trì trạng thái đối đầu căng thẳng. Mỹ thông qua Đạo luật Dân chủ Cuba (1992) và Đạo luật Helms - Burton (1996) gia tăng trừng phạt các công ty nước ngoài đầu tư vào Cuba. Dưới thời G.W. Bush, Mỹ thành lập Ủy ban hỗ trợ một Cuba tự do (2003) nhằm đẩy nhanh sự sụp đổ của chính quyền cách mạng.
- Về kinh tế: Mỹ vẫn duy trì bao vây cấm vận nhưng đã xuất hiện những khe hở thương mại mang tính nhân đạo. Đạo luật Cải cách trừng phạt thương mại và tăng cường xuất khẩu (TSRA năm 2000) cho phép Mỹ xuất khẩu một số mặt hàng nông sản và thuốc men sang Cuba với điều kiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt.
Chương 3: Quan hệ Mỹ - Cuba từ năm 2009 đến năm 2016
Chương 3 làm rõ những biến chuyển mang tính bước ngoặt đưa quan hệ hai nước từ trạng thái đối đầu sang hòa dịu và tái thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức.
1. Những nhân tố tác động mới:
- Sự nhậm chức của Tổng thống Barack Obama (đầu năm 2009) với chủ trương sử dụng "quyền lực thông minh", ưu tiên ngoại giao đối thoại và điều chỉnh chính sách đối với Mỹ Latinh để khôi phục uy tín quốc tế của Mỹ.
- Tại Cuba, đồng chí Raúl Castro chính thức đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng (năm 2008), khởi xướng công cuộc "Cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội", mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài và thể hiện tinh thần sẵn sàng đối thoại bình đẳng với Washington.
- Sức ép từ các nước Mỹ Latinh tại các Hội nghị Thượng đỉnh châu Mỹ yêu cầu chấm dứt cô lập Cuba, cùng sự trung gian hỗ trợ ngoại giao của Tòa thánh Vatican và Chính phủ Canada.
2. Diễn tiến bình thường hóa quan hệ:
- Ngày 17/12/2014, hai nhà lãnh đạo Barack Obama và Raúl Castro cùng tuyên bố thỏa thuận lịch sử về việc tái lập quan hệ ngoại giao và trao đổi tù nhân.
- Ngày 11/4/2015, Tổng thống B. Obama và Chủ tịch Raúl Castro tiến hành cuộc hội đàm và bắt tay lịch sử tại Hội nghị Thượng đỉnh châu Mỹ lần thứ 7 ở Panama.
- Ngày 20/7/2015, Đại sứ quán Cuba tại Washington, D.C. chính thức mở lại. Đến ngày 14/8/2015, Ngoại trưởng John Kerry tới La Habana dự lễ thượng kỳ tại Đại sứ quán Mỹ.
- Từ ngày 20 đến ngày 22/3/2016, Tổng thống Barack Obama thực hiện chuyến thăm chính thức lịch sử tới Cuba, trở thành vị tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên thăm đảo quốc này sau 88 năm (kể từ chuyến thăm của Calvin Coolidge năm 1928).
- Về kinh tế: Chính quyền Obama nới lỏng các hạn chế về đi lại, bưu chính, cho phép mở rộng hạn mức kiều hối, thiết lập các thỏa thuận hợp tác về viễn thông, hàng không thương mại trực tiếp và an ninh hàng hải.
Chương 4: Nhận xét về quan hệ Mỹ - Cuba (1991 - 2016)
Chương 4 tổng hợp các phân tích, đưa ra những đánh giá khoa học toàn diện về tính chất, quy luật vận động và hệ quả của mối quan hệ song phương:
1. Kết quả tích cực và hạn chế:
- Kết quả tích cực: Chấm dứt hơn 5 thập kỷ cô lập ngoại giao chính thức; mở ra các kênh đối thoại song phương trực tiếp ở cấp cao; ký kết hơn 20 thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, phòng chống ma túy, buôn người và dịch vụ viễn thông, hàng không.
- Hạn chế: Khung pháp lý của lệnh cấm vận kinh tế, thương mại toàn diện (Embargo) vẫn chưa được dỡ bỏ do thẩm quyền thuộc Quốc hội Mỹ theo quy định của Đạo luật Helms - Burton; tranh chấp chủ quyền tại căn cứ hải quân vịnh Guantanamo; vấn đề bồi thường tài sản quốc hữu hóa của công dân Mỹ và đòi bồi thường thiệt hại do cấm vận từ phía Cuba; mâu thuẫn sâu sắc về nhân quyền và quan điểm thể chế chính trị.
2. Đặc điểm quan hệ giai đoạn 1991 - 2016:
- Tính bất đối xứng rõ nét về quy mô kinh tế, tiềm lực quân sự và vị thế quốc tế giữa một siêu cường toàn cầu và một quốc gia đang phát triển.
- Tính thực dụng chính trị đan xen đối đầu ý thức hệ: Sự thay đổi từ bao vây sang đối thoại không làm thay đổi mục tiêu chiến lược lâu dài của Mỹ trong việc thúc đẩy biến đổi xã hội tại Cuba, mà chỉ thay đổi về phương thức tiếp cận ("ngoại giao nhân dân", can dự kinh tế).
- Mối quan hệ chịu sự chi phối chặt chẽ của các nhóm cử tri gốc Cuba tại bang Florida và các cuộc đấu tranh nội bộ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa tại Mỹ.
3. Nguyên nhân và tác động của tiến trình bình thường hóa:
- Nguyên nhân: Xuất phát từ sự thay đổi nhận thức chiến lược của giới lãnh đạo hai nước; sự kiên cường và ổn định chính trị - kinh tế của Cuba sau cải cách; sự thất bại của chính sách bao vây cấm vận suốt hơn nửa thế kỷ; áp lực đoàn kết ủng hộ Cuba từ khối các quốc gia Mỹ Latinh.
- Tác động: Đối với Cuba, giảm bớt áp lực cô lập quốc tế, tạo điều kiện thu hút du lịch và ngoại tệ; đối với Mỹ, cải thiện hình ảnh ngoại giao và gia tăng vị thế can dự tại khu vực Tây bán cầu; đối với khu vực và thế giới, củng cố xu thế hòa bình, hợp tác và giải quyết bất đồng thông qua thương lượng ngoại giao.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp khoa học chủ yếu bao gồm:
- Về mặt khoa học và lý luận:
- Là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam về quan hệ Mỹ - Cuba giai đoạn 1991 - 2016, bao quát từ giai đoạn đối đầu hậu Chiến tranh Lạnh tới tiến trình tái lập quan hệ ngoại giao.
- Phân tích và chỉ rõ hệ thống các nhân tố khách quan, chủ quan chi phối sự chuyển đổi chính sách đối ngoại của Mỹ và Cuba qua hai giai đoạn cụ thể (1991 - 2008 và 2009 - 2016).
- Làm sáng tỏ bản chất của quá trình bình thường hóa quan hệ: từ kẻ thù chuyển thành các đối tác đàm phán trong khi vẫn tồn tại những bất đồng căn bản về ý thức hệ và lợi ích an ninh.
- Về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Hệ thống hóa, cập nhật và bổ sung khối lượng lớn tư liệu gốc, văn bản lập pháp và số liệu thống kê thương mại, ngân sách quốc phòng từ các cơ quan chính phủ Mỹ và các tổ chức quốc tế.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử quan hệ quốc tế tại các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành.
- Đúc kết các bài học lịch sử về đối ngoại song phương giữa nước lớn và nước nhỏ, hỗ trợ công tác tham mưu và hoạch định chính sách đối ngoại trong bối cảnh quốc tế biến động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do điều kiện khách quan và chủ quan, tác giả thừa nhận nguồn tư liệu tiếp cận chủ yếu dựa vào các văn bản chính sách, báo cáo giải mật và tài liệu của Mỹ, các tổ chức quốc tế, nguồn tiếng Anh và tiếng Việt. Nguồn tài liệu lưu trữ gốc trực tiếp từ các cơ quan nội bộ Cuba tiếp cận được còn ở mức độ khiêm tốn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quan hệ Mỹ - Cuba từ sau năm 2016 (giai đoạn cầm quyền của Tổng thống Donald Trump và các chính quyền kế tiếp) khi chính sách của Mỹ có sự đảo ngược và thắt chặt trở lại; khảo cứu sâu hơn các nguồn tài liệu lưu trữ bằng tiếng Tây Ban Nha tại La Habana để hoàn thiện góc nhìn đa chiều từ phía Cuba.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nhà nghiên cứu và giảng viên: Cung cấp khung phân tích lịch sử ngoại giao và hệ thống biên niên sự kiện chi tiết từ năm 1959 đến 2016 (thể hiện ở phần phụ lục), phục vụ công tác giảng dạy chuyên đề Quan hệ quốc tế và Lịch sử châu Mỹ.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Tài liệu học tập cho các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Quốc tế học, Chính trị học.
- Cơ quan quản lý và cán bộ làm chính sách đối ngoại: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về cách thức một quốc gia xã hội chủ nghĩa kiên trì bảo vệ chủ quyền, kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh và đàm phán với một siêu cường kinh tế - quân sự để bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian bắt đầu từ năm 1991 và kết thúc vào năm 2016?
Năm 1991 là thời điểm Liên Xô sụp đổ, chấm dứt trật tự hai cực Chiến tranh Lạnh, buộc cả Mỹ và Cuba phải điều chỉnh nhận thức chiến lược và chính sách đối ngoại. Năm 2016 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barack Obama, đánh dấu việc hoàn tất các bước đi căn bản trong việc tái thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và chuyến thăm lịch sử của ông tới La Habana.
2. Hai văn bản pháp lý chính nào của Mỹ đã siết chặt cấm vận đối với Cuba trong thập niên 1990?
Đó là Đạo luật Dân chủ Cuba năm 1992 (Cuban Democracy Act - CDA hay Đạo luật Torricelli) và Đạo luật Tự do và Đoàn kết Dân chủ Cuba năm 1996 (Đạo luật Helms - Burton). Hai đạo luật này quốc tế hóa lệnh cấm vận và đưa ra các điều kiện ngặt nghèo về thay đổi thể chế chính trị tại Cuba.
3. Những mốc sự kiện ngoại giao then chốt nào đánh dấu tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba giai đoạn 2014 - 2016?
- 17/12/2014: Tuyên bố đồng thời của Tổng thống B. Obama và Chủ tịch Raúl Castro về việc tái lập quan hệ.
- 11/4/2015: Cuộc hội đàm và bắt tay giữa hai nguyên thủ tại Hội nghị Thượng đỉnh châu Mỹ ở Panama.
- 20/7/2015: Đại sứ quán Cuba chính thức mở lại tại Washington, D.C.
- 14/8/2015: Đại sứ quán Mỹ chính thức mở lại tại La Habana.
- 20 - 22/3/2016: Tổng thống Barack Obama thăm chính thức La Habana.
4. Những trở ngại lớn nhất ngăn cản việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ Mỹ - Cuba được luận án chỉ ra là gì?
Các trở ngại cốt lõi bao gồm: Lệnh bao vây cấm vận thương mại toàn diện chưa được Quốc hội Mỹ bãi bỏ; vấn đề chủ quyền căn cứ hải quân Mỹ tại vịnh Guantanamo; tranh chấp bồi thường tài sản quốc hữu hóa và thiệt hại kinh tế do cấm vận; sự khác biệt sâu sắc về hệ tư tưởng chính trị và quan điểm nhân quyền giữa hai quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quan hệ Mỹ - Cuba (1991 - 2016)" của tác giả Lê Minh Giang là một công trình nghiên cứu lịch sử thế giới chuyên khảo, phản ánh sinh động sự chuyển dịch phức tạp của quan hệ song phương từ đối đầu sang bình thường hóa. Bằng phương pháp luận mác-xít và cách tiếp cận đa tầng nấc, tác giả đã phục dựng toàn diện bức tranh quan hệ chính trị - ngoại giao và kinh tế giữa hai nước trong 25 năm hậu Chiến tranh Lạnh. Công trình khẳng định rằng tiến trình bình thường hóa là kết quả tất yếu của sự điều chỉnh nhận thức chiến lược, bối cảnh khu vực và nhu cầu phát triển nội tại của mỗi bên. Luận án đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử hiện đại và quan hệ quốc tế tại Việt Nam.