Phần mở đầu của luận văn. Đó là các cơ quan, tổ chức trung ương của bộ máy hành chính Nhà nước thời kì 1950-1991 gồm Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN, Bộ Văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nội vụ, Bộ Nông lâm, Bộ Công nghiệp và Bộ Y tế. Tuy nhiên, giữa các phông lưu trữ kể trên có sự chênh lệch về khối lượng hồ sơ, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và nội dung thông tin tài liệu được phản ánh ở nhiều mức độ khác nhau. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu các cơ quan, tổ chức có nhiều nhất khối tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo Việt Nam – Liên Xô và thành phần nội dung tài liệu tương đối hoàn chỉnh gồm Phủ Thủ tướng, UBKHNN, UBKhHNN và các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục, đào tạo là Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và THCN, không xét đến mức độ nhiều ít của tài liệu trong hai phông này.
Với các phông nêu trên, chúng tôi sẽ giới thiệu sự hình thành của các cơ quan cũng như tập trung làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này có liên quan đến sự hình thành các tài liệu về quan hệ hợp tác đào tạo giữa hai nước trong thành phần tài liệu của mỗi phông. 18 z Riêng đối với phông lưu trữ Bộ Văn hóa, mặc dù số lượng hồ sơ tương đối nhiều (20 hồ sơ), nhưng tài liệu không liên tục để có thể phản ánh tương đối đầy đủ nội dung vấn đề; hơn nữa, thông tin tài liệu hầu hết là nội dung các văn kiện hợp tác giữa hai nước trong một số năm và hoàn toàn trùng lặp thông tin trong khối tài liệu thuộc các phông quan trọng kể trên và các tài liệu xây dựng, đề nghị phê duyệt kế hoạch đào tạo LHS của ngành văn hóa tại các nước, do vậy, tài liệu thuộc phông gần như chỉ có giá trị tham khảo mà ít khai thác, sử dụng để nghiên cứu vấn đề. Cùng với các phông Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp và Bộ Nông lâm, số lượng hồ sơ tài liệu về vấn đề nghiên cứu khá ít (mỗi phông dưới 10 hồ sơ), chính vì vậy, chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược nhất về các cơ quan, tổ chức hình thành phông, không đi sâu và chi tiết đến lịch sử hoạt động, chức năng, nhiệm vụ cơ cấu tổ chức cụ thể của nhóm cơ quan này trong luận văn. * Phủ Thủ tướng Ngày 28/8/1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH ra tuyên cáo trước quốc dân đồng bào và cả thế giới về việc thành lập Chính phủ của nước Việt Nam mới.
Phủ Thủ tướng khởi thủy là bộ máy giúp việc cho Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH cũng như cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên gọi Văn phòng Chủ tịch Chính phủ, được thành lập ngay từ khi Chính phủ Lâm thời ra đời. Là bộ máy giúp việc của Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ nắm tình hình tổ chức, nhân viên, hoạt động của các Bộ; điều hòa và phối hợp hoạt động các Bộ; theo dõi tổ chức và hoạt động chung của Chính phủ; liên lạc với Ban vận động Thi đua ái quốc; theo dõi dư luận các tầng lớp dân chúng về hoạt động của chính quyền; thông tin trong và ngoài nước các hoạt động của Chính phủ; tổ chức các cuộc trưng bày; tổ chức các kì họp Hội đồng Chính phủ [144, tr. Ngày 02/8/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 87/SL về việc Văn phòng Chủ tịch Chính phủ đổi tên thành Văn phòng Thủ tướng phủ. Đây là bộ máy giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Hội đồng Chính phủ, Hội đồng Quốc phòng tối cao [146, tr.
Đến năm 1960, Văn phòng Thủ tướng phủ được đổi tên thành Văn phòng Phủ Thủ tướng theo Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 14/7/1960 [115, tr. Thời kì này, Văn phòng Phủ Thủ tướng có các bộ phận giúp việc về lĩnh vực kinh tế đối ngoại (gọi tắt là VP9) và bộ phận phụ trách lĩnh vực văn xã (gọi tắt là VP15) cùng các bộ phận giúp việc khác. 19 z Đến năm 1972, để phù hợp với tình hình mới của cách mạng Việt Nam, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Văn phòng Phủ Thủ tướng được quy định: “là bộ máy làm việc của Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc quản lý mọi mặt công tác của Chính phủ, đảm bảo cho sự chỉ đạo của Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với toàn bộ hoạt động của các ngành, các địa phương được tập trung, thống nhất và thông suốt; đảm bảo giúp Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức có hiệu quả các Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ; đảm bảo sinh hoạt của Hội đồng Chính phủ được đều đặn” [118, tr. Ngày 18/12/1980, Quốc hội Khóa VI, Kỳ họp thứ 7 đã nhất trí thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định cơ cấu tổ chức mới của bộ máy lãnh đạo Nhà nước, Văn phòng Phủ Thủ tướng được đổi tên thành Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/7/1981, Quyết định số 161/HĐBT ngày 29/12/1981 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về chế độ làm việc và quan hệ công tác của Hội đồng Bộ trưởng trong phiên họp Thường vụ của Hội đồng Bộ trưởng ngày 24/8/1982, Văn phòng Phủ Thủ tướng có tên là Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, là bộ máy giúp việc của Hội đồng Bộ trưởng, có nhiệm vụ phục vụ sự quản lý tập trung thống nhất của Hội đồng Bộ trưởng; phục vụ sự chỉ đạo và điều hành công việc hàng ngày của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng [119, tr. * Ủy ban Kế hoạch Nhà nước UBKHNN có tên gọi đầu tiên là Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết được thành lập theo Sắc lệnh số 78 ngày 31/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam DCCH, thực hiện nhiệm vụ “nghiên cứu một kế hoạch thiết thực để kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, văn hóa và thảo ra những đề án kiến thiết đưa lên Chính phủ” [01, tr. Năm 1955, Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch kiến thiết được đổi tên thành Ủy ban Kế hoạch Quốc gia tại phiên họp ngày 08/10/1955 của Hội đồng Chính phủ. Thông tư số 603/TTg ngày 14/10/1955 của Thủ tướng Chính phủ quy định Ủy ban Kế hoạch Quốc gia thực hiện nhiệm vụ “kế hoạch hóa công cuộc kiến thiết kinh tế và văn hóa, tổ chức và chỉ đạo công tác thống kê và kế toán trong nước” [08, tr.
20 z Năm 1961, Ủy ban Kế hoạch Quốc gia được đổi tên thành UBKHNN và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 158/CP ngày 09/10/1961 của Hội đồng Chính phủ. Theo đó, UBKHNN “là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho các mặt của nền kinh tế, văn hóa được phát triển theo đúng những quy luật của chủ nghĩa xã hội và nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của quốc dân” [02, tr. Một số nhiệm vụ cụ thể của Ủy ban là “xây dựng kế hoạch Nhà nước hàng năm và kế hoạch Nhà nước dài hạn phát triển nền kinh tế quốc dân về các mặt, trình Hội đồng Chính phủ phê chuẩn; nghiên cứu các vấn đề hợp tác kinh tế đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hợp tác KHKT với các nước, tức là các vấn đề có quan hệ đến công tác xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch [02, tr. Thành phần tài liệu trong phông lưu trữ UBKHNN đã phản ánh rõ nét chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban trong quá trình hoạt động.
UBKHNN là cơ quan xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước. Trong lĩnh vực hợp tác đào tạo ở nước ngoài (có Liên Xô), UBKHNN tổng hợp từ kế hoạch của các Bộ, ban ngành trung ương và địa phương đề xuất, cân đối và trình Chính phủ phê duyệt. Cũng như với mọi vấn đề về hợp tác kinh tế và KHKT với nước ngoài, UBKHNN được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch hợp tác giữa nước ta với các nước. Những nhiệm vụ này đã lý giải vì sao phông lưu trữ UBKHNN là một trong những đơn vị hình thành nhiều nhất tài liệu về kế hoạch và kết quả hợp tác Việt Nam – Liên Xô trong lĩnh vực đào tạo.
Sau này, để thu gọn đầu mối quản lý theo xu hướng cải cách hành chính nhà nước, ngày 21/10/1995, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã ra Nghị quyết thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất UBKHNN và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư. * Ủy ban Khoa học Nhà nước Năm 1954, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kì khôi phục và phát triển kinh tế, KHKT được Đảng và Nhà nước xác định là nguồn lực và động lực vô cùng quan trọng đối với công cụộc khôi phục và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Trong hoàn cảnh đó, tại kì họp thứ 8, Quốc hội Khóa I ngày 29/4/1958 đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập UBKhHNN. Ủy ban thực sự hoạt động 21 z ngay sau Nghị quyết của Quốc hội, nhưng tới ngày 04/3/1959, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 016-SL thành lập UBKhHNN có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ.
Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKhHNN được quy định tại Nghị định số 43-CP ngày 04/04/1962 của Hội đồng Chính phủ. Ủy ban “là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác khoa học, kỹ thuật theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển khoa học, kỹ thuật, mở rộng hợp tác với nước ngoài về mặt nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, đưa nền khoa học kỹ thuật Việt Nam lên trình độ tiên tiến, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” [65, tr.