phần mở đầu, đề án và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án gồm 3 chƣơng, 6 tiết. Chƣơng 1 – Trình bày khái niệm cơ bản và các lý thuyết địa chính trị liên quan Chƣơng 2 – Trình bày thực trạng và các giải pháp bảo vệ Tổ quốc Chƣơng 3 – Một số giải pháp bảo vệ Tổ quốc 8 Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ĐỊA CHÍNH TRỊ LIÊN QUAN 1. Bảo vệ Tổ quốc – quy luật tồn vong của quốc gia dân tộc 1. Khái niệm bảo vệ Tổ quốc Dựng nƣớc đi liền với giữ nƣớc, xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ quốc, đó là quy luật tồn tại và phát triển hàng ngàn đời của đất nƣớc.
Qua các giai đoạn, thời kỳ lịch sử, các thế hệ ngƣời Việt Nam luôn biết tiếp nối truyền thống cha ông, chung sức, đồng lòng bảo vệ đất nƣớc trƣớc các thế lực ngoại xâm. Quy luật đó vẫn đúng, dù trong chiến tranh hay trong hòa bình, chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc chỉ có thể đƣợc bảo toàn trọn vẹn khi có sự tham gia, vào cuộc của toàn dân. Ngày 19/9/1954 tại đền Giếng thuộc Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, nói chuyện với các cán bộ, chiến sĩ thuộc Đại đoàn quân Tiên Phong (nay là Sƣ đoàn 308) khi hành quân về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Các Vua Hùng đã có công dựng nƣớc, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nƣớc”. Theo học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Mac-Lênin.
Lênin đã luận giải và khái quát những vấn đề có tính nguyên tắc đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động và giai cấp công nhân. Nhƣ: tính tất yếu khách quan, nhiệm vụ, mục tiêu, lực lƣợng, phƣơng thức và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; sự quản lý của Nhà nƣớc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; củng cố và xây dựng khả năng quốc phòng; xây dựng, tổ chức quân đội kiểu mới; vũ trang cho toàn dân; mối quan hệ giữa bảo vệ Tổ quốc với xây dựng xã hội chủ nghĩa, v. Lênin, để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành đƣợc, giai cấp vô sản tất yếu phải cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ 9 nghĩa. Lênin viết: “Không cầm vũ khí bảo vệ nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại đƣợc.
Giai cấp thống trị không bao giờ nhƣờng chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhƣng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”[61, tr. Cùng với đó, bảo vệ Tổ quốc bao giờ cũng gắn với bảo vệ Đảng Cộng sản, Nhà nƣớc và chế độ xã hội chủ nghĩa. Lênin chỉ rõ: “Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhƣng cuộc chiến tranh giữ nƣớc mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nƣớc Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[62, tr.
Điều 45, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”[40]. Mọi công dân, không phân biệt thành phần, giới tính, dân tộc đều có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mà bảo vệ Tổ quốc cũng chính là bảo vệ cuộc sống hòa bình của nhân dân; bảo vệ sự nghiệp đổi mới của đất nƣớc; bảo vệ Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa… Nội hàm bảo vệ Tổ quốc đã đƣợc mở rộng và bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mỗi công dân tùy theo khả năng của mình đều có nghĩa vụ tham gia vào các công việc bảo vệ Tổ quốc. Điều 44, Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định rất rõ: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc.
Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”. Theo cố Tổng Bí thƣ Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:“ Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, xây dựng môi trƣờng thuận lợi để phát triển, nhƣng phải gắn với bảo vệ hòa bình, và hòa bình đƣợc coi là một giá trị thiêng liêng 10 của đất nƣớc”[31, tr. Có thể nói, đúc kết trên của cố Tổng Bí thƣ Nguyễn Phú Trọng là rất toàn diện và có giá trị phổ quát; bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ môi trƣờng hòa bình làm mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc phòng, quân sự trong dài hạn. Nhƣ vậy, bảo vệ Tổ quốc không chỉ bó hẹp trong phạm vi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn mở rộng thành bảo vệ môi trƣờng ổn định, hòa bình để đất nƣớc phát triển, bảo vệ Đảng và nhân dân.
Đặc điểm nói trên đƣợc thể hiện rõ trong “Chiến lƣợc quốc phòng Việt Nam” thời đại mới và nhiệm vụ tối thƣợng là bảo vệ nền hòa bình của đất nƣớc với mục tiêu quan trọng là bảo vệ chủ quyền quốc gia. Bảo vệ Tổ quốc đồng nghĩa với bảo vệ hòa bình; bảo vệ hòa bình là một nội hàm của bảo vệ Tổ quốc và phải bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Theo đó, nội hàm của khái niệm bảo vệ môi trƣờng hòa bình cho đất nƣớc đƣợc cụ thể hóa, nhấn mạnh, phát triển: Khẳng định tầm quan trọng của bảo đảm môi trƣờng hòa bình thuận lợi, xây dựng các mối quan hệ song phƣơng, đa phƣơng ổn định, thêm bạn bớt thù; đa phƣơng hóa, đa dạng hóa, đƣa quan hệ đi vào chiều sâu, tạo bƣớc chuyển mới về hội nhập; không tham gia liên minh quân sự, không cho nƣớc ngoài đặt quân sự, không theo nƣớc này để chống nƣớc kia; tham gia tích cực vào cấu trúc đa phƣơng, song phƣơng; lấy nội lực làm căn bản; xử lý đúng vấn đề biên giới lãnh thổ, trƣớc hết là vấn đề biển Đông; quan tâm chú ý tới công tác nghiên cứu chiến lƣợc và dự báo chiến lƣợc.Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc là quá trình vận dụng sáng tạo cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Trải qua các kỳ Đại 11 hội, các Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng, Bộ chính trị các khóa và trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc, với nền tảng tƣ duy mới thì nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc đƣợc Đảng, Nhà nƣớc nhận thức rộng hơn, rõ hơn, sâu sắc và toàn diện hơn.
Cƣơng lĩnh năm 1991, xác định nội hàm khái niệm bảo vệ Tổ quốc: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mƣu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[15, tr. Đại hội lần thứ VIII, IX đặc biệt là đại hội X, nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của Đảng đầy đủ và toàn diện hơn. Trong văn kiện Đại hội VIII, Bảo vệ Tổ quốc - “bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nƣớc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa”[16, tr. Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng thứ 8 khóa IX, nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc đƣợc cụ thể ở các nội dung sau: “một là, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nƣớc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trƣờng hòa bình phát triển đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ”[36, tr.
Đại hội X nhấn mạnh, cụ thể thêm nội dung - “bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa – tƣ tƣởng và an ninh xã hội…; không để bị động, bất ngờ”[11, tr. Từ đó, có thể thấy nhận thức của Đảng, Nhà nƣớc về Bảo vệ Tổ quốc từ trong Cƣơng lĩnh năm 1991 đến nay có nhiều phát triển. Chẳng hạn, gắn bảo vệ Tổ quốc với bảo vệ Đảng, Nhà nƣớc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; đƣa vào “tự bảo vệ”, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi tổ chức, cơ quan, cá 12 nhân; nhấn mạnh sự kết hợp 3 nhân tố: Đảng lãnh đạo tập trung, Nhà nƣớc quản lý, Nhân dân làm chủ, là trung tâm trong chiến lƣợc bảo vệ Tổ quốc; “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chƣơng Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”; “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mƣu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam. Lý thuyết địa chính trị cơ sở tiếp cận vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam 1.
Lý thuyết Trục địa lý lịch sử Á – Âu Lý thuyết này đƣợc phát triển bởi nhà địa lý học ngƣời Anh – Huân tƣớc Halford John Mackinder (1860-1947). Ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của địa lý đối với việc nghiên cứu lịch sử và chính trị toàn cầu. Ông viết: “Những cuộc chiến tranh lớn của lịch sử đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của sự tăng trƣởng không đồng đều của các quốc gia, và sự tăng trƣởng không đồng đều này. phần lớn lại là kết quả của sự phân bố không cân bằng về độ phì nhiêu và sự thuận lợi chiến lƣợc trên bề mặt của địa cầu’’[55].