CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH ĐỊA KINH TẾ 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu về cạnh tranh địa kinh tế Phan Văn Rân và Ngô Chí Nguyện (2019) đã đưa ra khái niệm của địa kinh tế dựa theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ Edward Luttwak. Khái niệm và nội hàm thuật ngữ địa kinh tế đã được nghiên cứu và chứng minh khá rõ ràng về mặt lý thuyết trong thực tiễn chính trị quốc tế.
Toàn cầu hóa làm gia tăng tầm quan trọng của nhân tố địa kinh tế trong nền kinh tế thế giới cũng như trong mối quan hệ nhân quả với cạnh tranh địa chính trị. Chiến tranh lạnh kết thúc, cạnh tranh ý thức hệ và sức mạnh quân sự được thay thế bằng cạnh tranh sức mạnh kinh tế, thứ bậc của các quốc gia trong hệ thống thế giới được xác định trước hết bởi sức mạnh kinh tế, lợi ích quốc gia chi phối quan hệ quốc tế đã khiến nhân tố kinh tế đứng ở trung tâm thay thế cho các tính toán về chiến lược, chính trị hay quân sự truyền thống vốn chi phối chính sách đối ngoại của các quốc gia. Do sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, thường là mang tính bất đối xứng nên nhà nước này có thể làm cho nhà nước khác phụ thuộc vào mình thông qua các quan hệ kinh tế, từ đó mà đạt được các mục tiêu chính trị. Hơn nữa, sự phụ thuộc lẫn nhau một cách bất đối xứng gia tăng làm gia tăng tính dễ tổn thương về kinh tế và chính trị của các quốc gia, nhất là của các nước nhỏ, đang phát triển.
Những biến động địa kinh tế có thể nhanh chóng dẫn tới những biến động địa chính trị và ngược lại. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ và thương mại trong toàn cầu hóa càng làm nổi bật vai trò của địa kinh tế trong cuộc đua tranh sức mạnh quốc gia. Bài viết cũng đã chỉ ra những quan điểm khác nhau về khái niệm địa kinh tế và mối quan hệ của nó với khái niệm địa chính trị trong cạnh tranh chiến 5 lược. Titli Basu (2019) đã đánh giá cách các cường quốc sử dụng những công cụ kinh tế bao gồm thương mại, đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng để đạt được lợi ích quốc gia hoặc các mục tiêu chiến lược tại khu vực Đông Nam Á.
Bài nghiên cứu phân tích các xu hướng thương mại và đầu tư trong khu vực, mức độ hội nhập khu vực và mối liên hệ với tham vọng địa kinh tế của các cường quốc. Khi các cường quốc lớn cạnh tranh để hình thành các chuẩn mực toàn cầu, nhằm thể hiện vai trò lãnh đạo sẽ hình thành FTAs không chỉ gồm những thoả thuận kinh tế đơn thuần mà còn bao hàm cả ý nghĩa an ninh và chính trị. Không chỉ vậy, các cường quốc sử dụng gói viện trợ kinh tế (các khoản vay ưu đãi, viện trợ không hoàn lại, hỗ trợ chuyển giao công nghệ-kỹ thuật) làm công cụ chiến lược để mở rộng ảnh hưởng trong khu vực, các chiến lược viện trợ này thường gắn liền với các ưu tiên thương mại và đầu tư của chương trình viện trợ. Các nước khu vực Đông Nam Á sẽ được hưởng lợi khi các cường quốc cạnh tranh trong khu vực bằng các biện pháp tăng cường thương mại, đầu tư, phát triển và cấp vốn cho cơ sở hạ tầng.
Điều này giúp các nền kinh tế ASEAN theo đuổi mục tiêu tăng trưởng khu vực vực và quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Bruna Coelho Jaeger và Pedro Vinicius Pereira Brites (2020) chỉ ra địa kinh tế là lĩnh vực xuất phát từ chính trị cổ điển. Thuật ngữ “địa kinh tế” được Edward Luttwak sử dụng lần đầu tiên vào năm 1990. Tác giả đánh giá quan điểm của Hoa Kỳ về mối đe dọa kinh tế và thương mại mà Nhật Bản đại diện ở cấp độ toàn cầu.
Về mặt phân tích, tác giả chuyển logic cạnh tranh quân sự sang lĩnh vực thương mại quốc tế. Theo cách này, nó quan sát năng lực kinh tế như một yếu tố của quyền lực, chẩn đoán sự ra đời của địa kinh tế học như một viễn cảnh mới để hiểu các tranh chấp quốc tế. Nói cách khác, trong viễn cảnh hậu Chiến tranh Lạnh, các yếu tố quyền lực được coi là trung tâm của địa chính trị cổ điển sẽ nhường chỗ cho yếu tố kinh tế. Cấu hình quyền lực 6 trong hệ thống quốc tế sẽ phụ thuộc vào sự phân bổ địa kinh tế.
Tác giả cho rằng, địa kinh tế là một phần của kinh tế chính trị quốc tế. Cụ thể hơn, địa kinh tế được hiểu là sự mở rộng phạm vi áp dụng của địa chính trị lên các quan hệ kinh tế quốc tế. Đó còn là việc sử dụng các công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy, bảo vệ lợi ích quốc gia đồng thời đạt được lợi ích chính trị. Địa kinh tế bao gồm cả việc chuyển đổi tài sản kinh tế thành ảnh hưởng chính trị và huy động quyền lực chính trị để đạt được các mục tiêu kinh tế thông qua các trường hợp cạnh tranh hoặc hợp tác.
Sức mạnh kinh tế, trong khuôn khổ phân tích của địa kinh tế học, là trung tâm để làm cho sức mạnh địa chính trị trở nên bền vững. Địa kinh tế là sự kết hợp giữa các chính sách thương mại, đầu tư, năng lượng, công cụ trừng phạt kinh tế, tài chính và các hình thức viện trợ, vốn vay ưu đãi. Việc ra quyết định về việc mở rộng địa lý của các công ty đa quốc gia từ các khía cạnh lãnh thổ, cũng như các quá trình hội nhập và hợp tác khu vực giữa các nước láng giềng, chẳng hạn, tập trung vào các yếu tố địa lý, chính trị và kinh tế tạo nên khái niệm địa kinh tế. Seung-Ook Lee, Joel Wainwright và Jim Glassman (2017) đã chỉ ra địa kinh tế là tập hợp của các chiến lược của các cường quốc sử dụng trong lãnh thổ và xuyên biên giới.
Sức mạnh địa kinh tế thường được xem xét trong mối quan hệ với dòng chảy kinh tế xuyên biên giới. Các chính sách địa kinh tế có thể được thể hiện thông qua các chính sách bảo hộ chính sách bảo hộ của chính quyền cựu Tổng thống Donald Trump. Blackwill and Jennifer M. Harris (2016), thuật ngữ địa kinh tế ngày nay được sử dụng nhiều, nhưng hầu như luôn không có định nghĩa cụ thể.
Một số tác giả có xu hướng tập trung vào việc sử dụng sức mạnh địa chính trị hoặc quân sự cho mục đích kinh tế. Một số khác nhấn mạnh địa kinh tế chủ yếu tập trung vào thương mại và bảo hộ các ngành công nghiệp. Các quốc gia không chỉ triển khai các công cụ địa kinh tế để chống lại một loạt các mục đích phi kinh tế, mà họ còn sử 7 dụng các công cụ này theo nhiều cách khác nhau. Sự khác biệt rõ ràng nhất ở đây là giữa các hình thức đòn bẩy địa kinh tế tích cực và cưỡng chế.
Nhưng các nỗ lực địa kinh tế khác nhau ở một loạt điểm số khác: các mục tiêu có thể ngắn hạn hoặc dài hạn hơn; một số biện pháp mang tính giao dịch nhiều hơn (trong đó các mục tiêu được hiểu một cách hẹp và lợi ích dự kiến được xác định khá rõ), trong khi những biện pháp khác mang tính tổng quát hơn (trong đó các mục tiêu rộng hơn và lợi ích ít được hiểu hơn); và phạm vi của các kỹ thuật địa kinh tế trong thời chiến sẽ khác với các kỹ thuật trong thời bình hoặc khi không có xung đột quân sự tích cực. Các tác giả lập luận rằng các khía cạnh kinh tế của đại chiến lược đã bị Hoa Kỳ từ bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ đã bị hạn chế bởi một châm ngôn tự xây dựng của chủ nghĩa tân tự do. Do đó, các nguồn lực rất đa dạng và đáng kể của Hoa Kỳ vẫn chưa được sử dụng đúng mức như các công cụ đại chiến lược.
Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và Nga là các quốc gia thực hành hiệu quả nghệ thuật quản lý kinh tế. Trung Quốc đã sử dụng các chính sách cưỡng chế kinh tế chính thức và không chính thức để điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia yếu thế hơn đồng bộ với chính sách của chính họ, để chống lại các đối thủ cạnh tranh và thách thức quyền bá chủ của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu. Blackwill và Harris duy trì quan điểm của họ bằng cách tuyên bố rằng chiến lược kinh tế hiện tại của Trung Quốc là một chiến lược lành tính coi sự thống trị kinh tế là mục đích cuối cùng. Chiến lược này không chỉ là mối đe dọa trực tiếp mà còn là những thách thức gián tiếp đối với nền kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ,.
Tác giả nêu bật những vấn đề mà Hoa Kỳ đang phải đối mặt về địa kinh tế do hậu quả của những ràng buộc tự áp đặt. Tác giả thừa nhận rằng Hoa Kỳ là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới với nguồn tài nguyên dồi dào và có vị trí trung tâm trong nền chính trị thế giới. Tác giả cũng cho rằng Hoa Kỳ đã có một lịch sử phong phú trong việc thực hiện thành công địa 8 kinh tế. Kế hoạch Marshall được sử dụng như một ví dụ về thành công của địa kinh tế Hoa Kỳ, và họ nhấn mạnh ở điểm rằng các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ không nên quên quá khứ địa kinh tế thành công của đất nước và một lần nữa nên trở thành một người đam mê thực hành.
Mark Leonard (2015) chỉ ra cạnh tranh địa chính trị đang định hình lại nền kinh tế toàn cầu và làm sáng tỏ các mối quan hệ quyền lực và quản trị toàn cầu. Ukraine là tâm điểm của cuộc khủng hoảng trật tự châu Âu, trong đó Liên bang Nga và phương Tây sử dụng thị trường tài chính, năng lượng và kiểm soát internet để thúc đẩy các mục đích riêng của họ. Ở châu Á, sự cạnh tranh giữa một Trung Quốc đang trỗi dậy và các nước láng giềng đã làm nảy sinh các tranh chấp hải quân, việc sử dụng các biện pháp trừng phạt và hạn chế tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ở mọi khu vực trên thế giới, các cường quốc mới và các nhóm dân số bất ổn đang gia tăng.