Chương 1: NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN HỢP TÁC NOI BỘ ASEAN VE VAN DE BIEN ĐÔNG Bién Đông luôn là điểm nóng nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các “thế lực” ở khu vực, quốc tế. Do vậy, mối quan hệ nội bộ của ASEAN liên quan đến vấn đề Biển Đông chịu sức ép rat lớn từ các yếu tô bên trong lẫn bên ngoài. Khái quát về Biển Đông và quá trình tranh chấp Biển Đông 1. Khái quát về Biển Đông Về địa lý, Biên Đông là một trong những biên lớn nhất thế giới với diện tích khoảng 3,5 triệu km”.
Ở phía Bắc, Biển Đông nối liền biển Hoa Đông qua eo biển Đài Loan; phía Đông Bắc giáp Biển Philippines (Thái Bình Dương); phía Tây Nam tiếp giáp An Độ Dương qua eo biển Malacca; phía Nam giáp Biển Java (Indonesia). Với vị trí như vậy, Biển Đông là cầu nối chiến lược giữa hai đại đương lớn là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các quốc gia, vùng lãnh thô tiếp giáp trực tiếp với Biển Đông bao gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Tại Biên Đông có hai quốc gia quan đảo lớn nhất thế giới là Indonesia cùng Philippines; trung tâm Biển Đông có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; có hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ ở phía Tây Bắc, Vịnh Thái Lan ở phía Tây Nam.
Biển Đông có cấu trúc đảo và quần đảo vô cùng đa dạng với hàng vạn hòn đảo lớn nhỏ trong đó Indonesia là quốc gia có số đảo lớn nhất, tiếp đến là Philippines. Riêng Việt Nam có trên 4.000 hòn đảo, khoảng 75% số đảo tập trung ở khu vực Biên Đông Bắc. Năm trong khu vực khí hậu cận nhiệt gió mùa, có dòng chảy biến động theo mùa tương đối phong phú, đồng thời vùng thềm lục địa Biển Đông có nhiều kiểu hình sinh thái khác nhau gắn với quá trình vận động kiến tạo phức tạp góp phần tạo nên nguôn tài nguyên biển đặc biệt dồi dào, đa dang. Đáng chú ý là nguồn dau, khí 20 đốt và các loại khoáng sản có giá trị khác.
Nhiều cuộc khảo sát, thăm dò đã xác định được trữ lượng dầu khoảng II tỷ thùng và khoảng 5,38 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên. Ngoài ra vẫn còn khoảng 12 tỷ thùng dầu và khoảng 4,53 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên chưa được khai phá [66]. Bên cạnh đó, các kim loại hiếm như thiếc, titan, ziricon, vonfram, brom, sắt, đồng cũng có trữ lượng đáng kể, cùng một số khoáng sản khác, trong số đó, không thê không nhắc đến nguồn tải nguyên đất hiếm - loại tài nguyên đang rất được quan tâm trong những năm gần đây. Các cuộc khảo sát đã cho thấy Biển Đông có trữ lượng đất hiếm dồi dào.
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiềm năng lợi ích mà Biển Đông có thể mang lại cho các quốc gia là rất lớn. Điều này đặt ra nhiều vấn đề cho việc xác định quyền lợi ích của các bên trong dòng chảy lịch sử đương đại. về yếu tố địa chiến lược của Biển Đông, gan với vi tri dia lý đặc biệt, Biển Đông là nơi kết nối các trung tâm kinh tế - chính trị lớn của thế giới. Eo biển Malacca (phía Tây Nam Biển Đông) có tầm quan trọng tương đương với kênh đào Suez (liên lục địa Á - Phi); hay kênh đào Panama (Trung Mỹ).
Điểm chung của các eo biển này đều là nơi kết nối các văn minh đại đương lớn. Ở đó, mọi quốc gia trên thế giới đều muốn duy trì sự hiện diện lợi ích của họ. Không những vậy, Biển Đông còn là cánh cửa kết nối hai châu lục: châu Đại Dương và châu Á. Đứng dưới góc độ địa kinh tế, xuyên suốt quá trình lịch sử hàng thế kỷ, Biển Đông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giao thương toàn cau.
Điều này càng có ý nghĩa hơn khi các quốc gia, vùng lãnh thổ liên khu vực Đông Á - Đông Nam Á đều là những chủ thể có thế mạnh về thương mai, giá tri xuất - nhập khẩu lớn hang đầu thế giới. Hơn nữa, nguồn tài nguyên đa dang và dồi dào ở Biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khu vực. Điều này không chỉ tạo ra cuộc đua tranh giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, mà còn kích hoạt một cuộc đua mở rộng với sự tham gia của nhiều quốc gia bên ngoài khác. Bởi vậy, Biển Đông đã và đang trở thành điểm nóng tài nguyên theo sau khu vực Trung Cận Đông.
21 Ở góc độ địa chính tri, Biển Đông là khu vực có sự ton tại của một siêu cường toàn cầu (Trung Quốc). Trung Quốc đang ngày càng thé hiện rõ vai trò của một trung tâm chính trị mới của thế giới từ sau Chiến tranh Lạnh. Trung tâm này tất yếu sẽ thu hút cuộc xâm lấn của các thé lực cạnh tranh khác, đặc biệt là Mỹ. Trong hoàn cảnh đó, Biển Đông trở thành một trong những khu vực giao thoa quyền lực giữa các siêu cường, khiến Biển Đông ân chứa trong mình nhiều mầm mống bat ồn.
Những vấn đề cạnh tranh giữa các quốc gia Đông Nam Á không chỉ là vấn đề của riêng các nước nay ma còn có nguy cơ trở thành công cụ cho các nước lớn sử dung nhằm làm bat 6n tình hình chính tri của khu vực nhằm phục vụ lợi ích của họ. Gắn với những yếu tố địa chính trị phức tạp đó, Biển Đông đã và đang trở thành một khu vực tồn tại nhiều thách thức an ninh, quốc phòng cả truyền thống lẫn phi truyền thống. Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng chính sách biển một cách hết sức cân trọng. Khái quát quá trình tranh chấp ở Biển Đông Trong lịch sử, quá trình gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ của các cường quốc tại khu vực Biển Đông đã sớm được triển khai.
Điều đó khang định những giá trị địa chính trị quan trọng của Biển Đông đối với khu vực và thế giới suốt hàng thế kỷ qua. Ngay từ thế kỷ XIX, các cường quốc tư bản trong quá trình bành trướng, xâm chiếm các thị trường thuộc địa đã dé tâm tới Biển Đông. Cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc trên Biển Đông ít nhiều đã được ghi nhận. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, phần lớn Biển Đông chịu sự kiểm soát của Nhật Bản.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng, sự phân chia lại ảnh hưởng trên Biển Đông diễn ra vô cùng phức tạp. Trong Chiến tranh Lạnh, khi các nước trong khu vực Biên Đông còn chưa phát triển hoặc đang phải tập trung mọi nguồn lực giành lại nền độc lập, hòa bình, thống nhất, Mỹ trở thành siêu cường kiểm soát phần lớn vùng biển này. Cho đến thập niên 70 của thé kỷ XX, khi nguy cơ thất bại của Mỹ trên chiến trường Việt Nam đã hiện hữu, các nước trong khu vực đã chuẩn bị sẵn cho cuộc dua thay thế Mỹ hiện diện tại Biển Đông. Đó cũng là thời điểm đánh dấu sự trở lại của Trung Quốc.
Họ là bên chủ động hơn trong quá trình banh trướng tại Biển Đông, thậm chí nước nay đã sử 22 dụng biện pháp vũ lực cho tham vọng của họ. Các nước khác tuy cùng tham gia cuộc đua tranh lấp đầy khoảng trống quyền lực tại Biển Đông với Trung Quốc. Nhưng với tiềm lực có hạn, hầu hết các nước Đông Nam A đều không có được đầy đủ những gì mà họ mong muốn. Hệ quả dẫn đến những tranh chấp kéo dài cho đến ngày nay.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tranh chấp Biên Đông tuy không còn kéo theo các xung đột vũ trang, nhưng mức độ phức tạp không hé giảm. Cu thể, Biển Đông đang là khu vực có tranh chấp cả ở góc độ song phương lẫn đa phương: giữa Việt Nam và Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan) về quần đảo Hoàng Sa; giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia va Brunei về quần đảo Trường Sa!. Bên cạnh đó, các nước trong khu vực cũng có những tranh chấp tại các khu vực biển khác ngoài hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ngoài ra, trước năm 2000, Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn có những tranh chấp, mâu thuẫn trên Vịnh Bắc Bộ.
Vấn đề này chỉ được giải quyết khi hai nước ký được Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ vào ngày 25/12/2000. Hay tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan tại khu vực phía Tây Nam Biển Đông, phía cửa Vịnh Thái Lan. Đến năm 1997, các tranh chấp cũng đã được giải quyết thông qua sự kiện hai nước ký Hiệp định về ranh giới thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam - Thai Lan. Cho đến thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, tranh chấp trên biển giữa các quốc gia Đông Nam Á về cơ bản đã được giải quyết, các nước lần lượt ký kết được các hiệp định phân định ranh giới biển.
Vấn đề tranh chấp lớn nhất còn tồn tại là các tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước ASEAN có liên quan, đặc biệt là với: Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia va Brunei. Tháng 5/2009 Trung Quốc chính thức gửi lên Uy ban Liên Hop Quốc về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) “Báo cáo về thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Đồng thời, họ liên tục gửi công hàm phản ! Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm giữ trái phép toàn bộ quan đảo Hoàng Sa với 23 đảo, bãi đá và cát. Còn tại quần đảo Trường Sa, Việt Nam đang kiểm soát 22 đảo và bãi; Trung Quốc giữ 8 đảo; Philippines 8 đảo; Malaysia 5 đảo và Dai Loan | đảo tên là “Thái Bình” (Việt Nam gọi là đảo Ba Bình) cũng là đảo lớn nhất của quân đảo Trường Sa.
23 đối hồ sơ của các nước khác như Việt Nam, Malaysia va Philippines”. Trong các Công hàm này của Trung Quốc có kèm theo một bản đồ “hình lưỡi bò” (đường chữ U) 9 đoạn và cho rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo ở biên Nam Trung Hoa (Biển Đông) và có quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển” [48].