Chương I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 23 Truyền thống cả nước chung sức đánh giặc dựa trên cơ sở chăm lo nền tảng xã hội vững bền, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Để “an dân”, động viên sức mạnh của nhân dân, phải thi hành những chính sách tiến bộ. Lý Thường Kiệt hết sức quan tâm đến việc “đủ ăn” là nguyện vọng của dân. Trần Quốc Tuấn đúc kết những nguyên lý giữ nước: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước chung sức”, phải “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”1.
Nguyễn Trãi nhấn mạnh phải “yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Buổi đầu thời Lê, triều đình ban lệnh “Không được khinh động đến sức dân”. Đến thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ chủ trương “làm sao cho dân yên ổn, có ruộng cày.”, “mở mang cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ứ đọng, làm lợi cho dân”. Các triều đại phong kiến tiến bộ đều chú ý bồi dưỡng, khoan thư sức dân, ra chiếu khuyến nông, chăm lo thủy lợi, có khi giảm miễn tô thuế để mở mang kinh tế và tăng cường đoàn kết giữa triều đình và dân chúng.
Một khi nhân dân được quan tâm, gắn bó với chế độ xã hội, với người lãnh đạo, thì truyền thống yêu nước được phát huy, trở thành chỗ dựa vững chắc nhất cho cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, thực hiện tốt mọi chủ trương của Nhà nước, làm cho “Nhân dân ai cũng là binh”. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 24 ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN. Trong xây dựng lực lượng quân đội, các triều đình phong kiến Việt Nam rất chú trọng yếu tố chất lượng, quân “cốt tinh”, tuyển chọn và rèn luyện đội ngũ tướng lĩnh tài trí, trung thành, có uy tín và năng lực chỉ huy, quân sĩ thiện chiến; giáo dục sự đoàn kết nhất trí của tướng sĩ để xây dựng “đội quân một lòng như cha con”1.
Ở thế kỷ X, triều đình Đinh, Tiền Lê tổ chức lực lượng theo chế độ “thập đạo quân”. Về danh nghĩa, trong nước có một đạo quân đông đến hàng chục vạn người, song trên thực tế đó là chế độ tổ chức quân đội theo “ngạch biên số”. Lúc hòa bình, hầu hết số quân đó ở nhà sản xuất, lúc có chiến tranh, tất cả được huy động vào đội ngũ đã định sẵn. Theo sử gia Ngô Thì Sĩ, “bấy giờ binh và nông chưa chia, khi có việc thì gọi ra, xong việc lại giải tán về làm ruộng”.
Các thời Lý, Trần, Lê đều áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông”, thực hiện “trăm họ đều là binh” để đảm bảo lực lượng sẵn sàng cho những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm; biết tổ chức ra nhiều thứ quân, có quân trung ương, quân các lộ (tỉnh) và hương binh, thổ binh, dân binh ở các làng, xã. Mỗi khi tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh, những người lãnh đạo luôn quan tâm xây dựng chỗ đứng chân, dựa vào những điều kiện thiên thời, địa lợi và nhân hòa để dựng “đất căn bản” nhằm giải quyết vấn đề tiềm lực, tập hợp và rèn luyện lực lượng, tích trữ lương thảo, rèn sắm vũ khí; khi thì dựa vào vùng rừng núi, khi thì dựa vào vùng đầm lầy, khi ____________ 1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. Chương I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 25 thì từ rừng núi tiến về đồng bằng, mở rộng căn cứ địa, khai thác ngày càng nhiều sức người, sức của cho khởi nghĩa và chiến tranh.
Thế kỷ III trước Công nguyên, dân Tây Âu và Lạc Việt chiến đấu ròng rã hàng chục năm chống quân xâm lược nhà Tần, cử người kiệt tuấn lên làm tướng, đánh đêm, đánh úp giết hàng chục vạn quân Tần, và cuối cùng giành thắng lợi. Cách tổ chức lực lượng và cách đánh đó là một hình thức của dân chúng vũ trang, vì căm thù quân xâm lược mà tự nguyện đứng lên chiến đấu. Thời An Dương Vương đã có tổ chức quân đội dân tộc, gồm bộ binh và thuỷ binh; có thành Cổ Loa vừa là căn cứ bộ binh, vừa là căn cứ thuỷ binh, có vũ khí lợi hại là “nỏ liên châu” bắn được nhiều mũi tên một lúc, sản xuất được số lượng rất lớn mũi tên đồng, đánh dấu một bước tiến quan trọng về kỹ thuật quân sự. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào “nỏ thần” mà không dựa vào lực lượng toàn dân, lại mất cảnh giác trước hoạt động gián điệp của đối phương thì vẫn có thể dẫn đến họa mất nước.
Trong 10 thế kỷ mất nước, nhân dân liên tiếp nổi dậy đấu tranh giành độc lập, những cuộc khởi nghĩa dân tộc liên tiếp diễn ra. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Hai Bà Trưng, rồi những cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt, Lương Long, Bà Triệu, Lý Bí, Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Thanh. đến cuộc nổi dậy của Khúc Thừa Dụ và chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, chấm dứt ách đô hộ của nước ngoài, giành lại nền độc lập.000 năm đó, lực lượng vũ trang là nghĩa 26 ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN. quân bao gồm nhiều tầng lớp, dân tộc ở cả miền núi và miền xuôi.
Thời phong kiến độc lập tự chủ, chế độ “toàn dân là binh” được xây dựng và hoàn chỉnh dần qua các triều đại. Sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, nhà nước phong kiến tập quyền thời Đinh mới được xây dựng đã có chế độ kiểm kê dân số để tuyển lính. Lực lượng vũ trang được tổ chức theo cách “khi có việc thì gọi ra, khi xong việc lại cho về làm ruộng”, xây dựng được 10 đạo quân khoảng mấy vạn người do Thập đạo tướng quân Lê Hoàn chỉ huy. Các thời Lý, Trần, Lê sơ đều thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, chia dân đinh thành “hoàng nam” (từ 18 đến 20 tuổi) và “đại hoàng nam” (từ 21 đến 60 tuổi) thay phiên nhau ra lính, đến khi có chiến tranh thì tuyển vào quân ngũ.
thời Trần động viên lực lượng toàn dân theo tinh thần “cả nước chung sức”, thực hiện “tận dân vi binh”. Các nhà nước phong kiến đã xây dựng nhiều thứ quân khác nhau như quân của triều đình ở trung ương, quân của các lộ, của các vương hầu và tù trưởng thiểu số ở địa phương; có hương binh, dân binh, thổ binh ở làng, xã, trang động. Quân của triều đình là quân tại ngũ, gọi là “quân thiên tử” (thời Đinh - Lê), “quân túc vệ”, “cấm vệ” (thời Lý - Trần). Bên cạnh đó có “quân ở ngoài”, đặt ở nông thôn “lúc vô sự thì về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết”.
Chính quyền phong kiến tổ chức ra hương binh, thổ binh để duy trì quyền thống trị ở làng xã, nhưng trong chiến tranh là để cùng dân chúng chiến đấu chống xâm lược, hình thành nên một lực lượng vũ trang rộng rãi của dân chúng. Chương I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 27 3. Đánh giặc bằng tài thao lược kiệt xuất, dùng trí tuệ cao hơn giặc để thắng giặc Dựa vào lực lượng toàn dân, có lực lượng vũ trang được tổ chức hợp lý, cách đánh giặc của những thế hệ tiền bối rất độc đáo và sáng tạo, luôn giành thế chủ động, không cho quân xâm lược phát huy lối đánh sở trường của chúng; chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng tinh thần dũng cảm hy sinh, mà còn bằng trí thông minh sáng tạo, bằng tư tưởng chiến lược tiến công1 và nghệ thuật quân sự độc đáo trong khởi nghĩa cũng như trong chiến tranh2. Tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc là tư tưởng tiến công, tuy có những bước phòng ngự, rút lui cần thiết trong thời kỳ đầu.
Những người lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh đã biết đánh giá sức mạnh của kẻ thù một cách đúng đắn, biết chọn đúng phương hướng, mục tiêu và thời cơ tiến công rất linh hoạt, khi thì đánh phủ đầu vào căn cứ địch, khi thì cho địch vào sâu, tạm lùi một bước tạo thời cơ thuận lợi để chuyển sang phản công kiên quyết, khi thì tiến công bền bỉ, liên tục, từ nhỏ đến lớn, tiến tới đánh thắng mọi kẻ thù. Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, có nhiều hình thức khởi nghĩa và chiến tranh, khi thì tiến hành khởi nghĩa vũ trang rộng khắp, nhanh chóng lật đổ ách đô hộ của kẻ thù, giành thắng lợi trong cả nước; khi thì khởi nghĩa ở một vài địa phương rồi phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, kết hợp tác chiến của quân với sự nổi dậy của dân, từng bước lật đổ nền thống trị của địch. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng có sự kết hợp giữa tác chiến của quân và sự nổi dậy của nhân dân ở những vùng địch chiếm, bằng nhiều phương thức khác nhau: phân tán đánh nhỏ, tiến lên đánh tập trung; kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, kết hợp đánh lớn và đánh nhỏ, kết hợp đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao. 28 ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN.
Lý Thường Kiệt thực hiện “tiên phát chế nhân”, tiến công trước, phòng ngự vững chắc, chủ động phản công đúng lúc. Trần Quốc Tuấn “dĩ đoản chế trường”, chế ngự sức mạnh kẻ địch và phản công khi chúng suy yếu, mệt mỏi. Lê Lợi, Nguyễn Trãi “lấy yếu chống mạnh”, tiến hành đánh lâu dài, từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh, từng bước tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ giành thắng lợi. Quang Trung chỉ huy đánh thần tốc, tiến công mãnh liệt từ nhiều hướng khiến quân Thanh không kịp trở tay.
Hồ Chí Minh nhắc đến kinh nghiệm “ngày xưa tổ tiên ta đã phải kháng chiến trường kỳ mới thắng được ngoại xâm”1. Đánh lâu dài là một phương châm chiến lược; lấy ít địch nhiều, “lấy đoản binh chế trường trận”; dùng mai phục, tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ, kết hợp đánh tập trung và đánh phân tán, đánh tiêu diệt và đánh tiêu hao; kết hợp quân đội triều đình với lực lượng vũ trang của dân chúng; đánh giặc bằng mưu cao mẹo giỏi; kết hợp nhiều cách đánh phong phú, linh hoạt; kết hợp giành thắng lợi về quân sự với giải pháp ngoại giao để kết thúc chiến tranh; cũng có khi vừa đánh vừa đàm buộc đối phương phải rút quân về nước. “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”2 là đặc điểm nổi bật trong truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, tạo nên trường ____________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.