Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ từ năm 1951 đến năm 1960" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Thị Mai Hương, thuộc chuyên ngành Lịch sử Thế giới (mã số: 9229011) tại Trường Đại học Vinh (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Ngọc Tân và PGS.TS Văn Ngọc Thành.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quan hệ Nhật Bản - Mỹ có lịch sử lâu dài, chuyển biến qua nhiều giai đoạn từ đối đầu sang quan hệ đồng minh sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mốc ngày 8/9/1951 với việc ký kết Hiệp ước Hòa bình San Francisco và Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ đã chấm dứt tình trạng chiếm đóng, mở ra trang mới trong lịch sử ngoại giao hai nước. Đến ngày 19/1/1960, Hiệp ước hợp tác và an ninh tương hỗ Nhật - Mỹ tiếp tục được ký kết, củng cố nền tảng quan hệ đồng minh song phương. Giai đoạn 1951 - 1960 giữ vị trí then chốt, phản ánh sự tác động của Chiến tranh Lạnh và toan tính chiến lược của mỗi quốc gia. Mặc dù mối quan hệ này được triển khai trên nhiều mặt, chính trị - an ninh và kinh tế là hai lĩnh vực chi phối cốt lõi. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là tại Việt Nam chưa có công trình chuyên khảo nào phục dựng một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về quan hệ song phương trên cả hai trục chính trị - an ninh và kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ trong khung thời gian 1951 - 1960.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là phục dựng quan hệ giữa Nhật Bản và Mỹ trên lĩnh vực chính trị - an ninh và kinh tế giai đoạn 1951 - 1960; đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và tác động của mối quan hệ này đối với từng nước, khu vực và quốc tế; đồng thời rút ra các đặc điểm của mối quan hệ song phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Thứ nhất, phân tích những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế Nhật Bản - Mỹ giai đoạn 1951 - 1960.
- Thứ hai, phân tích tiến trình và những nội dung chủ yếu trong quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế Nhật Bản - Mỹ giai đoạn 1951 - 1960.
- Thứ ba, đánh giá, nhận xét về quan hệ chính trị - an ninh và quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ trong giai đoạn 1951 - 1960; làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, tác động đối với từng nước, khu vực, quốc tế và các đặc điểm của mối quan hệ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ từ năm 1951 đến năm 1960.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 8/9/1951 (thời điểm ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco và Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ) đến ngày 19/1/1960 (thời điểm ký Hiệp ước hợp tác và an ninh tương hỗ Nhật - Mỹ). Luận án cũng khảo sát khái quát giai đoạn trước năm 1951 và liên hệ giai đoạn sau để đảm bảo tính liên tục lịch sử.
- Phạm vi không gian: Không gian nghiên cứu chính là Nhật Bản và Mỹ, có mở rộng tham chiếu đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào quan hệ song phương trên hai lĩnh vực trọng tâm là chính trị - an ninh (hình thành và triển khai liên minh) và kinh tế (chủ yếu là thương mại và đầu tư). Các diễn đàn đa phương chỉ được đề cập dưới góc độ bổ trợ, tham chiếu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã phân loại và tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú từ nước ngoài và trong nước:
1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
- Về chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Mỹ:
- Nghiên cứu đối ngoại Nhật Bản: Irie Akira với Ngoại giao Nhật Bản: Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hoá (2012) và Ngoại giao Nhật Bản (từ Minh trị Duy tân đến hiện đại) (2013); Tadao Umesao với Lịch sử nhìn từ quan điểm sinh thái học: Văn minh Nhật Bản trong bối cảnh thế giới (1964/2007); Peter Calvocoressi với Chính trị thế giới sau năm 1945 (2007); Shigeru Yoshida với Japan's Decisive Century 1867-1967 (1967); Cooney với Japan's Foreign Policy Since 1945 (2015); Glenn D. Hook, Julie Gilson, Christopher W. Hughes, Hugo Dobson với Japan's International Relations: Politics, economics and security (2009); Takashi Inoguchi với Japan’s International Relations (2012); Thomas U. Mochizuki và Jitsuo Tsuchiyama với Japan in International Politics: The Foreign Policies of an Adaptive State (2007); Inoguchi Takashi và Purnendra Jain với Japanese Foreign Policy Today (2000); Makoto Iokibe với The Diplomatic History of Postwar Japan (2011); Brendan M. Howe và Joel R. Campbell (2013); Yoneyuki Sugita với bài viết về Học thuyết Yoshida; Wrenn Yennie Lindgren (2021); cùng các công trình lịch sử kinh tế của Yoshihara K. (1991), Viện Nghiên cứu Đại học Chuo (1992), Nakamura Takafusa (1998).
- Nghiên cứu đối ngoại Mỹ: Bruce W. Jentleson với Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI (2004); Thomas J. McCormick với Nước Mỹ nửa thế kỷ - Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh (2004); Alan P. Dobson và Steve Marsh với US Foreign Policy since 1945 (2007); Michael Cox và Doug Stokes với US Foreign Policy (2018); Joyce P. Kaufman với A Concise History of U.S. Foreign Policy (2017); Glenn P. Hastedt với American Foreign Policy: Past, Present, and Future (2018); Michael Schaller với The American Occupation of Japan - The Origins of the Cold War in Asia (1985); Eric Foner (2003); Howard Cincotta (2000).
- Về quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế Nhật Bản - Mỹ:
- Các công trình chuyên khảo: John Swenson-Wright với Unequal Allies? United States Security and Alliance Policy Toward Japan, 1945 - 1960 (2005); Aaron Forsberg với America and the Japanese Miracle: The Cold War Context of Japan's Postwar Economic Revival, 1950 - 1960 (2000); Kent E. Calder với Pacific Alliance Reviving U.S. - Japan Relations in a Changing World (2002); Michael Schaller với Altered States: The United States and Japan Since the Occupation (1997); Robert Murphy với Diplomat among Warriors (1964); Akira Iriye và Robert A. Wampler (đồng chủ biên) với Partnership: The United States and Japan, 1951 - 2001 (2001); Melvyn P. Leffler và Odd Arne Westad (2010); Sarah Kovner (2016); Michael Beckley, Yusaku Horiuchi và Jennifer M. Miller (2018).
- Các luận án, luận văn quốc tế: Jennifer M. Miller với Building a New Kind of Alliance: The United States, Japan, and the Cold War, 1950 - 1961 (PhD thesis); Kim Nam Gyun với US - Japan Relations during the Korean War (1995); Tae Youl Paek với U.S. - Japan Influence Relations, 1945 - 1990 (1986); Alexandra E. Smith (1999).
2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Về chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Mỹ:
- Nhóm nghiên cứu lịch sử và đối ngoại Nhật Bản: Nguyễn Anh Thái (chủ biên, 2006); Ngô Xuân Bình (chủ biên, 2000); Lê Văn Sang và Lưu Ngọc Trịnh (1991); Lê Văn Sang (1988); Lưu Ngọc Trịnh (1998); Nguyễn Thanh Hiền (2002); Phan Ngọc Liên (chủ biên, 1995); Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên, 2007); Trần Văn Thọ (2022); Vĩnh Sính (1991); Lê Văn Quang (1997); các bài báo của Nguyễn Văn Kim (2004), Nguyễn Văn Tận (2000), Trần Anh Phương (2005), Trương Việt Hà (2015), Lê Thị Bình (2015).
- Nhóm nghiên cứu đối ngoại Mỹ: Nguyễn Thái Yên Hương (chủ biên, 2018); Trần Thiện Thanh với luận án tiến sĩ Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ XX (2008); Nguyễn Thị Nga (2004).
- Về quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế Nhật Bản - Mỹ:
- Sách và giáo trình: Lê Văn Quang (1993); Trần Nam Tiến (chủ biên, 2008); Trần Văn Đào và Phan Doãn Nam (2001); Nguyễn Xuân Sơn (1997); Nguyễn Quốc Hùng (1999, 2000).
- Bài báo tạp chí: Trần Quang Minh (2002); Hoàng Xuân Hòa (2002); Nguyễn Tuấn Minh (2009); Nguyễn Văn Du và Ngô Chí Nguyện (2020).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Từ việc tổng thuật tình hình nghiên cứu, tác giả chỉ ra các điểm hạn chế của các công trình đi trước mà luận án tập trung giải quyết:
- Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận khung thời gian rộng (toàn bộ Chiến tranh Lạnh hoặc hậu Chiến tranh Lạnh), giai đoạn 1951 - 1960 chỉ được đề cập khái quát hoặc lồng ghép ngắn gọn.
- Các công trình hiện có thường tách rời quan hệ chính trị - an ninh hoặc quan hệ kinh tế, chưa có nghiên cứu kết hợp đồng thời cả hai trụ cột này trong một chỉnh thể quan hệ song phương thống nhất từ năm 1951 đến năm 1960.
- Các nhân tố tác động chưa được phân tích đầy đủ và đa tầng theo các cấp độ: quốc tế, khu vực, quốc gia và vai trò của các cá nhân lãnh đạo.
- Nguồn tư liệu chuyên khảo tại Việt Nam về giai đoạn này còn hạn chế, cần được bổ sung và hệ thống hóa từ các nguồn văn kiện ngoại giao và công trình quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Luận án vận dụng và quán triệt quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên cứu lịch sử và quan hệ quốc tế.
- Khung phân tích nhân tố: Tiếp cận nghiên cứu đa cấp độ gồm: cấp độ quốc tế/toàn cầu (Trật tự hai cực Yalta, Chiến tranh Lạnh), cấp độ khu vực (Đông Á, biến động tại Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam), cấp độ quốc gia (tình hình nội trị, chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Mỹ) và cấp độ cá nhân (vai trò của các nhà lãnh đạo: Yoshida Shigeru, Kishi Nobusuke, Harry Truman, Dwight D. Eisenhower).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình quan hệ song phương theo trình tự thời gian khách quan) và phương pháp logic (phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả và rút ra nhận xét, đánh giá).
- Phương pháp quan hệ quốc tế: Tổng hợp, so sánh, phân tích giải thích, phân tích nội dung, phân tích sự kiện lịch sử đặt trong bối cảnh quốc tế.
- Phương pháp kinh tế: Thống kê, phân tích định tính, định lượng, diễn dịch, quy nạp, lập bảng so sánh và biểu đồ nhằm làm rõ các chỉ số về thương mại, viện trợ, đầu tư, chi tiêu quân sự.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Tài liệu gốc: Các văn bản hiệp ước, hiệp định, thỏa thuận hợp tác và tuyên bố chung giữa Nhật Bản và Mỹ; báo cáo thống kê chính thức của Bộ Ngoại giao Nhật Bản và Bộ Ngoại giao Mỹ; các bài phát biểu, diễn văn ngoại giao của lãnh đạo hai nước.
- Tài liệu tham khảo: Các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nhật; luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ trong và ngoài nước; bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành lịch sử, kinh tế, quan hệ quốc tế; kỷ yếu hội thảo và dữ liệu từ website chính thức của các cơ quan chính phủ.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương nội dung chính, phần Kết luận, Danh mục các công trình của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm luận chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai nhóm: chính sách đối ngoại của từng nước và quan hệ song phương chính trị - an ninh, kinh tế. Tác giả đánh giá tổng quát các thành tựu nghiên cứu đã đạt được, xác định rõ những khoảng trống về mặt khoa học cần giải quyết, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu và hướng tiếp cận độc lập của luận án.
Chương 2. Những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ từ năm 1951 đến năm 1960
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống các nhân tố khách quan và chủ quan định hình mối quan hệ Nhật - Mỹ giai đoạn 1951 - 1960:
1. Tình hình quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương
- Trật tự hai cực và Chiến tranh Lạnh: Sự đối đầu giữa hai phe do Liên Xô và Mỹ đứng đầu chi phối sâu sắc chính sách đối ngoại. Phong trào giải phóng dân tộc và hệ thống xã hội chủ nghĩa mở rộng.
- Sự ra đời của nước CHND Trung Hoa (1/10/1949): Thất bại của lực lượng Tưởng Giới Thạch làm sụp đổ toan tính của Mỹ trong việc dùng Trung Quốc làm thành trì ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Dưới chính sách "Nhất biên đảo" của Trung Quốc, Mỹ chuyển hướng chiến lược, coi Nhật Bản là "pháo đài" thay thế để kiềm chế Liên Xô và Trung Quốc.
- Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953): Nhật Bản trở thành hậu cứ quân sự, bảo dưỡng kỹ thuật và tiếp vận hậu cần trực tiếp cho quân đội Mỹ. Cuộc chiến mang lại "thu nhập đặc biệt" từ các đơn đặt hàng quân sự của Mỹ (năm 1950 đạt 229,995 triệu USD; năm 1952 tăng lên 305,543 triệu USD), tạo động lực hồi sinh kinh tế Nhật Bản.
- Chiến tranh Việt Nam: Mỹ can thiệp ngày càng sâu sau năm 1954 để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á. Mỹ viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm 1 tỷ USD giai đoạn 1955 - 1961, triển khai 800 chuyến tàu chở vũ khí (1955 - 1960). Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với chính quyền Sài Gòn vào năm 1955, đóng vai trò nhà thầu cung cấp hàng hóa hậu cần cho Mỹ; kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Nam Việt Nam năm 1956 đạt 53,253 triệu USD và năm 1960 đạt 61,450 triệu USD.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| BỐI CẢNH VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG (1951 - 1960) |
| |
| [Quốc tế & Khu vực] |
| - Trật tự hai cực Yalta / Chiến tranh Lạnh đối đầu Xô - Mỹ |
| - Sự ra đời của CHND Trung Hoa (1949) -> Mỹ chuyển trục chiến lược |
| - Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) & Chiến tranh Việt Nam (sau 1954) |
| |
| [Quan hệ lịch sử & Chiếm đóng] |
| - Giai đoạn SCAP (1945-1951): Giải giáp quân phiệt, Hiến pháp 1946 (Điều 9) |
| - Cải cách kinh tế: Giải tán Zaibatsu, Cải cách ruộng đất, Kế hoạch Dodge |
| |
| [Chính sách & Lãnh đạo] |
| - Nhật Bản: Học thuyết Yoshida (ưu tiên kinh tế, dựa vào bảo hộ an ninh Mỹ) |
| - Mỹ: Chiến lược ngăn chặn, hỗ trợ kinh tế và tích hợp Nhật vào khối tự do |
| - Lãnh đạo: Yoshida Shigeru, Kishi Nobusuke / Harry Truman, D. Eisenhower |
+-------------------------------------------------------------------------------+
2. Quan hệ Nhật Bản - Mỹ trước năm 1951
- Giai đoạn trước năm 1945: Khái quát từ sự kiện Đô đốc Perry chỉ huy 4 tàu chiến ép ký Hiệp ước Kanagawa (1854) buộc Mạc Phủ mở cửa biển Shimoda và Hakodate; quan hệ hợp tác thời Minh Trị; mâu thuẫn quyền lợi tại Trung Quốc và Thái Bình Dương dẫn đến Hiệp ước Washington (1922) quy định tỷ suất hải quân 5:5:3; sự kiện Mãn Châu (1931); đỉnh điểm là cuộc tập kích Trân Châu Cảng (7/12/1941) và việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima, Nagasaki (8/1945).
- Giai đoạn chiếm đóng (1945 - 1951):
- Giai đoạn đầu (1945 - 1947), Bộ Chỉ huy Tối cao các Lực lượng Đồng minh (SCAP) do Tướng Douglas MacArthur đứng đầu thực hiện "phi quân sự hóa" và "dân chủ hóa": giải ngũ khoảng 7 triệu binh lính Nhật; ban hành Hiến pháp 1946 với Điều 9 từ bỏ chiến tranh; giải tán 47 tập đoàn Daibatsu (thu giữ 233 triệu cổ phần, chia tách Mitsui và Mitsubishi thành 240 công ty); ban hành các luật lao động (1945, 1946, 1947); tiến hành cải cách ruộng đất qua 2 đợt trong năm 1946.
- Giai đoạn từ 1947 đến 1951: Trước biến động tại Trung Quốc và Chiến tranh Lạnh, Mỹ chuyển sang chính sách phục hồi kinh tế Nhật Bản. Mỹ viện trợ hơn 2 tỷ USD (1947 - 1951), giảm mức bồi thường chiến tranh xuống còn 1/4 (tháng 3/1947), cử Joseph M. Dodge triển khai Kế hoạch Dodge (cân bằng ngân sách, ngừng tín dụng bù lỗ lạm phát, cắt trợ cấp) và ấn định tỷ giá cố định 360 Yên = 1 USD vào ngày 25/4/1949.
Bảng tổng hợp: Một số chỉ số và dữ liệu lịch sử trong quan hệ Nhật - Mỹ giai đoạn chuẩn bị và đầu thập niên 1950
| Nội dung / Chỉ số sự kiện |
Thời điểm / Giai đoạn |
Số liệu / Nội dung văn bản ghi nhận |
| Giải ngũ lực lượng quân đội Nhật Bản |
Sau 16/9/1945 |
Khoảng 7 triệu binh lính được giải ngũ |
| Giải tán các tập đoàn tài phiệt (Daibatsu) |
1947 |
47 tổ chức bị giải tán; 233 triệu cổ phần bị thu giữ; Mitsui & Mitsubishi tách thành 240 công ty |
| Tỷ giá hối đoái ấn định theo Kế hoạch Dodge |
25/4/1949 |
360 Yên = 1 USD |
| Viện trợ kinh tế của Mỹ vào Nhật Bản |
1947 - 1949 |
Tăng từ 304 triệu USD (1947) lên 539 triệu USD (1949); tổng giai đoạn 1947-1951 đạt hơn 2 tỷ USD |
| Đơn đặt hàng quân sự của Mỹ cho Nhật (Chiến tranh Triều Tiên) |
1950, 1952 |
Năm 1950: 229,995 triệu USD; Năm 1952: 305,543 triệu USD |
| Xuất khẩu của Nhật sang Nam Việt Nam |
1956, 1960 |
Năm 1956: 53,253 triệu USD; Năm 1960: 61,450 triệu USD |
| Viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền Ngô Đình Diệm |
1955 - 1961 |
1 tỷ USD (với 800 chuyến tàu chở phương tiện vũ khí trong các năm 1955 - 1960) |
3. Tình hình nội tại, chính sách đối ngoại và vai trò lãnh đạo
- Nhật Bản: Phục hồi sau chiến tranh, xây dựng thể chế chính trị ổn định; triển khai chính sách đối ngoại theo "Học thuyết Yoshida" (tập trung phát triển kinh tế, hạn chế chi phí quân sự, dựa vào chiếc ô an ninh của Mỹ).
- Mỹ: Đẩy mạnh chiến lược toàn cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản; viện trợ và bảo trợ cho Nhật Bản gia nhập các định chế kinh tế phương Tây.
- Vai trò cá nhân: Thủ tướng Yoshida Shigeru (kiến trúc sư đường lối phục hồi kinh tế - ngoại giao hòa bình), Thủ tướng Kishi Nobusuke (chủ trương sửa đổi Hiệp ước An ninh theo hướng bình đẳng hơn); Tổng thống Harry Truman và Dwight D. Eisenhower (hoạch định và duy trì cam kết an ninh, hỗ trợ kinh tế cho Nhật Bản).
Chương 3. Thực trạng quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ từ năm 1951 đến năm 1960
Chương 3 tái hiện toàn diện tiến trình phát triển và các lĩnh vực hợp tác cụ thể:
1. Quan hệ chính trị - an ninh
- Tiến trình phát triển (1951 - 1960): Ký kết Hiệp ước Hòa bình San Francisco và Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ ngày 8/9/1951 (chính thức có hiệu lực từ tháng 4/1952). Giai đoạn 1951 - 1954 tập trung vào việc thực thi quy chế đóng quân của Mỹ và vấn đề tái vũ trang từng bước của Nhật Bản (thành lập Đội Cảnh sát Dự bị, sau phát triển thành Lực lượng Phòng vệ). Giai đoạn 1955 - 1960 là quá trình đàm phán sửa đổi hiệp ước an ninh, đỉnh điểm là việc ký Hiệp ước hợp tác và an ninh tương hỗ ngày 19/1/1960.
- Các vấn đề cụ thể: Quy chế căn cứ quân sự Mỹ tại Nhật Bản (các phong trào biểu tình phản đối của dân chúng Nhật Bản liên quan đến đất đai và an ninh); sự tham gia của Nhật Bản vào Chương trình Hỗ trợ Quân sự (MAP) của Mỹ; sự phối hợp lập trường ngoại giao trong vấn đề Trung Quốc (áp lực của Mỹ buộc Nhật ký hòa ước với Đài Loan thay vì CHND Trung Hoa) và việc đưa Nhật Bản gia nhập Liên hợp quốc (1956).
2. Quan hệ kinh tế
- Tiến trình phát triển: Từng bước chuyển từ thế phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ sang quan hệ thương mại và đầu tư song phương bình đẳng hơn.
- Các lĩnh vực kinh tế chủ yếu:
- Viện trợ và cho vay: Các chương trình hỗ trợ tài chính, công nghệ và tín dụng của Mỹ cho quá trình tái thiết công nghiệp Nhật Bản.
- Quan hệ thương mại: Sự gia tăng nhanh chóng của kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng hóa Nhật Bản (dệt may, sắt thép, hàng tiêu dùng), đồng thời cung cấp nguyên liệu thô và công nghệ cho Nhật Bản.
- Đầu tư trực tiếp và chuyển giao công nghệ: Dòng vốn đầu tư của Mỹ vào các ngành công nghiệp chế tạo, hóa chất của Nhật Bản; nhập khẩu công nghệ hiện đại từ Mỹ đóng vai trò đòn bẩy cho năng suất lao động Nhật Bản.
- Hỗ trợ hội nhập đa phương: Mỹ bảo trợ để Nhật Bản gia nhập Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (GATT), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).
Chương 4. Nhận xét về quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ từ năm 1951 đến năm 1960
Chương 4 đúc kết các đánh giá khoa học về mối quan hệ:
1. Kết quả và hạn chế
- Kết quả: Nhật Bản bảo đảm được môi trường an ninh ổn định mà không phải chi phí quá nhiều cho quân sự, tập trung nguồn lực phát triển kinh tế thần kỳ; Mỹ thiết lập được hệ thống căn cứ quân sự tiền tiêu vững chắc tại Đông Á. Quan hệ kinh tế tạo nền móng vững chắc cho sự hội nhập của Nhật Bản vào nền kinh tế tư bản chủ nghĩa toàn cầu.
- Hạn chế: Tồn tại tính chất bất bình đẳng trong Hiệp ước An ninh năm 1951; sự hiện diện của căn cứ quân sự Mỹ gây xung đột xã hội nội bộ tại Nhật Bản; Nhật Bản bị hạn chế quyền tự chủ đối ngoại (đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô); những mầm mống cọ xát thương mại bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1950.
2. Tác động của mối quan hệ
- Đối với Nhật Bản: Chấm dứt tình trạng chiếm đóng, khôi phục chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế nhảy vọt trong giai đoạn 1955 - 1973.
- Đối với Mỹ: Hiện thực hóa chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại châu Á - Thái Bình Dương, duy trì sự hiện diện quân sự trực tiếp ở sườn Đông Á.
- Đối với khu vực và quốc tế: Củng cố cấu trúc trật tự hai cực tại châu Á; tác động trực tiếp đến cục diện an ninh Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
3. Đặc điểm của mối quan hệ giai đoạn 1951 - 1960
- Mối quan hệ đồng minh vừa liên kết chặt chẽ vừa tiềm ẩn mâu thuẫn, chuyển dịch dần từ trạng thái phụ thuộc - bất bình đẳng sang quan hệ đối tác tương hỗ có tính toán lợi ích quốc gia của mỗi bên.
- Quan hệ an ninh đóng vai trò bảo bọc, dẫn dắt; quan hệ kinh tế đóng vai trò động lực thúc đẩy và tạo nền tảng vật chất bền vững cho liên minh chính trị.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ trong trọn vẹn giai đoạn 1951 - 1960.
- Phân tích làm rõ bản chất của mối quan hệ đồng minh song phương thông qua khung tiếp cận đa tầng (quốc tế, khu vực, quốc gia và cá nhân lãnh đạo), lý giải nguyên nhân dẫn đến sự phục hồi của Nhật Bản và cơ chế triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ tại châu Á.
- Hệ thống hóa, cung cấp nguồn tư liệu lịch sử mới, chính xác từ các hiệp ước, văn kiện ngoại giao và dữ liệu thống kê kinh tế song phương.
Ý nghĩa thực tiễn
- Đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập các chuyên đề về Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử nước Mỹ, Lịch sử Quan hệ quốc tế hiện đại và Lịch sử Chiến tranh Lạnh tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
- Cung cấp luận cứ lịch sử hỗ trợ việc tham chiếu, phân tích chính sách đối ngoại đương đại trong mối quan hệ giữa các nước lớn và các liên minh quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi: Luận án giới hạn nghiên cứu trong quan hệ song phương giữa Nhật Bản và Mỹ trên hai lĩnh vực chính trị - an ninh và kinh tế từ năm 1951 đến năm 1960; không đi sâu khảo sát các diễn đàn hợp tác đa phương hoặc các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục và khoa học - kỹ thuật thuần túy ngoài mục đích tham chiếu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quan hệ song phương Nhật - Mỹ trong các giai đoạn tiếp theo (như giai đoạn 1960 - 1973 hoặc thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh); khảo sát sâu hơn sự tương tác giữa liên minh an ninh Nhật - Mỹ với các cấu trúc an ninh đa phương tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Nhật Bản học, Hoa Kỳ học: Tham khảo khung phân tích lịch sử ngoại giao, phương pháp kết hợp phân tích chính trị - an ninh với dữ liệu kinh tế, cùng hệ thống thư mục phong phú trong và ngoài nước.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử: Sử dụng làm tài liệu phục vụ biên soạn bài giảng, giáo trình lịch sử thế giới hiện đại, lịch sử quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
- Chuyên gia hoạch định và phân tích chính sách đối ngoại: Tham khảo kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản trong việc cân bằng giữa lợi ích an ninh quốc gia, phát triển kinh tế độc lập và duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với siêu cường.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao mốc năm 1951 và năm 1960 được lựa chọn làm giới hạn thời gian nghiên cứu của luận án?
Năm 1951 (ngày 8/9/1951) là thời điểm ký kết Hiệp ước Hòa bình San Francisco (chấm dứt tình trạng chiếm đóng của phe Đồng minh) và Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ (đặt nền tảng cho quan hệ đồng minh song phương). Năm 1960 (ngày 19/1/1960) là thời điểm hai nước ký kết Hiệp ước hợp tác và an ninh tương hỗ, đánh dấu bước phát triển mới, củng cố tính chất bình đẳng và tương hỗ của liên minh.
2. Chiến tranh Triều Tiên đã tác động như thế nào đến quan hệ kinh tế và an ninh Nhật - Mỹ?
Về mặt an ninh, Chiến tranh Triều Tiên biến Nhật Bản thành pháo đài và hậu cứ tiếp vận hậu cần trực tiếp cho quân đội Mỹ. Về mặt kinh tế, cuộc chiến đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Nhật Bản thông qua các đơn đặt hàng quân sự đặc biệt của Mỹ (năm 1950 đạt 229,995 triệu USD; năm 1952 đạt 305,543 triệu USD), tạo cú hích giúp kinh tế Nhật Bản phục hồi nhanh chóng.
3. Những cải cách chủ yếu của SCAP tại Nhật Bản trong giai đoạn 1945 - 1947 gồm những nội dung gì?
SCAP đã thực hiện: giải giáp khoảng 7 triệu quân nhân; ban hành Hiến pháp 1946 (trong đó Điều 9 quy định từ bỏ chiến tranh); giải tán 47 tập đoàn Daibatsu (thu giữ 233 triệu cổ phần); thông qua các luật lao động (Luật Công đoàn 1945, Luật Điều chỉnh quan hệ lao động 1946, Luật Tiêu chuẩn lao động 1947); và triển khai hai đợt cải cách ruộng đất trong năm 1946.
4. Nội dung cốt lõi của Kế hoạch Dodge được triển khai tại Nhật Bản năm 1949 là gì?
Kế hoạch Dodge do Joseph M. Dodge đề xuất nhằm ổn định và độc lập hóa nền kinh tế Nhật Bản theo nguyên tắc thị trường tự do, bao gồm ba biện pháp chính: cân bằng ngân sách, đình chỉ các khoản cho vay bù lỗ lạm phát của Ngân hàng Tái thiết, và cắt giảm chế độ trợ cấp nhà nước. Kế hoạch này đã ấn định tỷ giá hối đoái cố định 360 Yên = 1 USD vào ngày 25/4/1949.
Kết luận
Luận án của tác giả Hoàng Thị Mai Hương đã tái hiện có hệ thống tiến trình vận động của quan hệ chính trị - an ninh và kinh tế giữa Nhật Bản và Mỹ trong giai đoạn bản lề 1951 - 1960. Công trình chỉ rõ mối quan hệ này vừa chịu sự chi phối của cục diện Chiến tranh Lạnh và chiến lược ngăn chặn của Mỹ, vừa phản ánh sự lựa chọn thực dụng của Nhật Bản theo Học thuyết Yoshida nhằm tập trung tái thiết kinh tế dưới sự bảo trợ an ninh của Mỹ. Với việc khai thác nguồn tư liệu đa dạng và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp phân tích quan hệ quốc tế, luận án đã làm rõ kết quả, hạn chế, đặc điểm và tác động sâu sắc của liên minh Nhật - Mỹ đối với cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.