CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự của công dân 1. Khái niệm pháp luật thực hiện nghĩa vụ quân sự Thực hiện NVQS là quy định bắt buộc với hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và dân số mà các nước quy định độ tuổi nhập ngũ cho công dân của nước mình; hoặc quy định nhập ngũ bắt buộc hay nhập ngũ tự nguyện, theo hợp đồng, thậm chí quy định nhập ngũ bắt buộc đối với cả nữ giới (ở Israel, tất cả thanh niên nam, nữ học xong trung học đều phải vào quân ngũ).
Tình hình thực hiện NVQS của một số nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy, trong xây dựng và BVTQ ở mỗi quốc gia cần thiết phải thực hiện NVQS đối với thanh niên. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”. Quy định trên, khẳng định mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và nhằm thể chế quy định của Hiến pháp năm 2013: “Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”, Luật nghĩa vụ quân sự đã quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.
Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Luật NVQS là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp BVTQ; tạo điều kiện cho nhân dân làm tròn NVQS và tham gia xây dựng nền QPTD. Luật NVQS góp phần quan trọng vào xây dựng Quân 10 Luan van đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và tăng cường QPTD, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới. Luật NVQS có các quy định về đối tượng, thời gian thực hiện NVQS; trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên trong thời gian tại ngũ; vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện NVQS; quy định miễn, tạm hoãn gọi nhập ngũ.
Luật NVQS đang hiện hành quy định, công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú có nhiệm vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong thời bình, với lục quân là 24 tháng, với các binh chủng kỹ thuật là 24 tháng [2, trg7]. Trong thời gian tại ngũ, thanh niên phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; Gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội; Ra sức học tập chính trị, quân sự, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và thể lực, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu,… [2, trg14]. Luật NVQS cũng quy định vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, Hội đồng NVQS xã, phường, thị trấn trong việc thực hiện NVQS của thanh niên.
Trong đó có quy định, gia đình có trách nhiệm động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho công dân làm tròn NVQS [2, trg16]. Ngoài ra, các văn bản hiện hành còn có các quy định về đối tượng được miễn, tạm hoãn gọi nhập ngũ. Nghị định Chính phủ, số 38/2007/NĐ-CP, ngày 15 tháng 3 năm 2007 quy định những công dân được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình: Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng 1, con của bệnh binh hạng 1; Một người anh trai hoặc em trai của liệt sĩ; Một con trai của thương binh hạng 2; Cán bộ, viên chức, công chức, thanh niên xung phong, thanh 11 Luan van niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên và công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ: Công dân có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ và học viên là hạ sĩ quan, binh sĩ đang học tập tại các trường quân đội, trường ngoài quân đội theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng; Công dân đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức giáo dục chính quy tập trung (Trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị đại học; v. Qua những phân tích trên, có thể hiểu pháp luật về thực hiện NVQS là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ quận sự của công dân trên cơ sở giáo dục thiết phục và cưỡng chế.
Khái niệm thực hiện pháp luật về NVQS Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không chỉ không ngừng xây dựng, hoàn thiện pháp luật mà còn có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm để pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất. Các quy phạm pháp luật muốn đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả điều chỉnh thì phải gắn với các quan hệ xã hội, với chủ thể, được thực hiện qua hoạt động có mục đích của chủ thể. Hơn nữa, đó còn là một yếu tố, giai đoạn không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Sau khi được ban hành, để phát huy vai trò, pháp luật phải được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng và tự giác thực hiện.
Vì thế, thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể khi gặp phải tình huống, sự kiện mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, từ nhận thức, chuyển hóa sáng tạo chúng vào tình huống cụ thể đó bằng hành vi thực tế, hợp pháp của mình. Ngoài ra, thực hiện pháp luật còn là nghĩa vụ của tất cả cơ quan, tổ 12 Luan van chức, cá nhân và được tiến hành bằng nhiều hình thức với quy trình khác nhau. Thực hiện pháp luật về NVQS bao gồm nhiều biện pháp tác động trong một quá trình nên có tính liên tục, thường xuyên. Việc thực hiện pháp luật về NVQS được xem là bộ phận quan trọng trong tổng thể các biện pháp thúc đẩy trên các lĩnh vực gắn với bảo đảm nghĩa vụ công dân, hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện pháp luật về NVQS giúp chủ thể - công dân - tiếp cận pháp luật, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của họ trong xã hội. Do thuộc tính điều chỉnh và bắt buộc chung của pháp luật, nên thực hiện pháp luật về NVQS đối với nước ta là nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó trước hết và chủ yếu thuộc về Nhà nước mà đại diện là cơ quan, đội ngũ cán bộ, công chức - người làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách cán bộ. Các chủ thể này phải là tấm gương sáng trong tuân thủ, chấp hành và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, sáng tạo. Nhà nước có trách nhiệm thiết lập các thể chế, thiết chế hỗ trợ công dân thực hiện pháp luật; giúp họ tiếp cận pháp luật, sử dụng các thiết chế hỗ trợ trong thực hiện các chính sách NVQS.
Như vậy, có thể hiểu thực hiện pháp luật về NVQS là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật NVQS đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật về NVQS là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lý nhất định, có mối liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về NVQS, bảo đảm cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội và gia đình. Đặc điểm của thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự 13 Luan van - Đặc điểm về chủ thể thực hiện: Chủ thể thực hiện pháp luật về Nghĩa vụ quân sự mang tính đa dạng và phong phú. Cụ thể: Các cơ quan nhà nước: đây là chủ thể đặc biệt vì trong quá trình thực hiện, cơ quan nhà nước phải thể hiện là chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện trách nhiệm quản lý xã hội, đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được tổ chức thực hiện trên một phạm vi rộng lớn là toàn quốc.
Bên cạnh đó, khác với các việc đảm bảo việc thực hiện pháp luật khác, việc thực hiện pháp luật nghĩa vụ quân sự còn do cơ quan các cơ quan có vị trí, chức năng đặc biệt thực hiện, đó là: Ban chỉ huy quân sự cấp xã; Ban chỉ huy quân sự cấp huyện; Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp. Ban chỉ huy quân sự cấp xã: Ban chỉ huy quân sự cấp xã được quy định: Tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự ở cơ sở; đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, công dân nam trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ; tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, quản lý lực lượng dự bị động viên theo quy định của pháp luật. Hội đồng NVQS các cấp là cơ quan tham mưu giúp UBND cùng cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiệm vụ tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ. - Đặc điểm về phạm vi pháp luật nghĩa vụ quân sự.
Phạm vi thực hiện pháp luật về NVQS là môi trường và những giới hạn không gian, địa lý để các chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về NVQS.