Tổng quan luận án

Công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ,CTCT) giữ vị trí nguyên tắc cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam xác nhận vai trò nòng cốt của đội ngũ chính trị viên (CTV) trong giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và rèn luyện kỷ luật cho bộ đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bộ đội. Tại các học viện, trường sĩ quan (HV,TSQ) quân đội – những trung tâm giáo dục, đào tạo (GD,ĐT) cán bộ và nghiên cứu khoa học quân sự của quốc gia và Quân đội – CTV ở các đơn vị quản lý học viên vừa là người chủ trì về chính trị, bí thư cấp ủy, vừa giữ vai trò "người thầy tại chỗ", quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan tương lai.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực, hoạt động CTĐ,CTCT của một bộ phận CTV tại các HV,TSQ vẫn bộc lộ hạn chế: nội dung và hình thức tiến hành còn đơn điệu, rập khuôn, chậm đổi mới; tính giáo dục và thuyết phục chưa cao; một số CTV còn thụ động, dựa dẫm vào cơ quan chính trị cấp trên, cá biệt có trường hợp vi phạm kỷ luật. Bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và mô hình nhà trường thông minh đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ này. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước của nghiên cứu sinh Vũ Anh Ba với đề tài "Chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay" được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu trên.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ; từ đó xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; xác định những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết.
  2. Hai là, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội.
  3. Ba là, đánh giá đúng thực trạng chất lượng CTĐ,CTCT, chỉ rõ nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, xác định những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.
  4. Bốn là, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào các vấn đề lý luận, thực tiễn về CTĐ,CTCT và chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV. Về không gian, luận án tập trung điều tra, khảo sát chất lượng hoạt động CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV (ở các cấp hệ, tiểu đoàn, đại đội thuộc đơn vị quản lý học viên) tại 07 HV,TSQ quân đội, bao gồm: Học viện Hậu cần, Học viện Biên phòng, Học viện Phòng không - Không quân, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Pháo binh. Về thời gian, các tư liệu, số liệu khảo sát thực tiễn phục vụ luận án được giới hạn chủ yếu từ năm 2020 đến nay; hệ thống giải pháp đề xuất có giá trị vận dụng định hướng đến năm 2035.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản luận án được cấu trúc thành hai nhánh nghiên cứu chính ở nước ngoài và trong nước, phản ánh bức tranh toàn diện về các công trình liên quan đến cán bộ chính trị và hoạt động CTĐ,CTCT:

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Tác giả đã khảo cứu các tài liệu tiêu biểu của Trung Quốc, Liên Xô và Lào. Về xây dựng đội ngũ cán bộ và cán bộ chính trị trong lực lượng vũ trang, các công trình được trích xuất gồm có: nghiên cứu của Chương Tử Nghị (chủ biên, 1987) về CTĐ,CTCT của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; công trình của Bành Quang Khiêm, Triệu Trí Ân, La Vĩnh (2012) về quốc phòng Trung Quốc; chuyên khảo của Đinh Bang Vũ (2013) về chỉ huy tác chiến học; bài viết của Tập Cận Bình (2014) về phát huy vai trò huyết mạch của công tác chính trị; nghiên cứu của Viện Công tác chính trị quân sự thuộc Viện Hàn lâm Khoa học quân sự Trung Quốc (2018) về rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân tài; luận án của Bun Thăn Chăn Thạ Ly Ma (2016) về bồi dưỡng năng lực cán bộ cơ quan chiến lược Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào; luận án của Phay Thun Kẹo Vông Phết (2023) về bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác của bí thư chi bộ đại đội trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào. Về hoạt động CTĐ,CTCT trong quân đội nước ngoài, tác giả phân tích cuốn sách của Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng Liên Xô (1976) tổng kết CTĐ,CTCT trong lực lượng vũ trang Liên Xô giai đoạn 1918 - 1973; Sách trắng quốc phòng năm 2002 của Bộ Quốc phòng Trung Quốc; Điều lệ công tác chính trị (2003) và Quy chế công tác chính trị (2010) của Quân ủy Trung ương Trung Quốc; cùng công trình nghiên cứu của Thim Sảo Đuông Chăm Pa (2016) về giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ tại Lào.

Các công trình nghiên cứu ở trong nước: Văn bản điểm lại hệ thống công trình nghiên cứu về cán bộ, cán bộ chính trị và CTĐ,CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Về xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị, tiêu biểu có tác phẩm của Chu Huy Mân (2006) về người chính ủy Quân đội nhân dân Việt Nam; các luận án tiến sĩ của Trần Sinh Huy (2013), Cấn Xuân Hùng (2015), Nguyễn Văn Phương (2017), Hoàng Mạnh Hưng (2019), Lương Tiến Lực (2023), Bùi Quang Kha (2024); cùng các sách chuyên khảo của Phạm Quang Thanh (chủ biên, 2017), Đặng Duy Thái (2019), Khuất Trọng Nam (2025). Về CTĐ,CTCT và chất lượng CTĐ,CTCT, tác giả tổng thuật các công trình của Tổng cục Chính trị (2013, 2016); đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng của Nguyễn Minh Khải (2014); các luận án và chuyên khảo của Nguyễn Đình Hiếu (2015), Nguyễn Thế Hải (2017), Phan Đăng Thanh (chủ biên, 2022); báo cáo tổng kết của Nguyễn Trọng Nghĩa (2020); và tác phẩm chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2023) về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng thời kỳ mới.

Khoảng trống nghiên cứu và vị trí của luận án: Tác giả luận án khẳng định, các công trình đã công bố tiếp cận vấn đề cán bộ chính trị và CTĐ,CTCT ở nhiều địa bàn, lực lượng đặc thù (như sư đoàn bộ binh, trung đoàn phòng không, không quân, bộ đội biên phòng, hải quân, lực lượng dự bị động viên, ban chỉ huy quân sự cấp huyện), nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV tại các HV,TSQ quân đội dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Từ khoảng trống này, luận án xác định tập trung giải quyết bốn nội dung trọng tâm:

  • Xây dựng quan niệm đội ngũ CTV, làm rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và quan niệm CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội.
  • Xây dựng quan niệm chất lượng CTĐ,CTCT, làm rõ các yếu tố quy định và xác định bộ tiêu chí đánh giá chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ.
  • Đánh giá thực trạng chất lượng CTĐ,CTCT, phân tích nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các vấn đề đặt ra cần tháo gỡ.
  • Dự báo các yếu tố tác động, xác định yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên hệ thống nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng lãnh đạo Quân đội, nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị, lý luận về CTĐ,CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam, và các quy định về chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị. Cơ sở thực tiễn là hiện thực hoạt động CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ; hệ thống chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị (tiêu biểu như Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20/7/2005 của Bộ Chính trị khóa IX; Quy định số 332-QĐ/TW ngày 24/6/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về tổ chức đảng trong Quân đội; Quy định thi hành Điều lệ Đảng số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026; Quy định số 334-QĐ/TW ngày 27/6/2025 của Ban Bí thư về tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội; Điều lệ CTĐ,CTCT ban hành kèm Quyết định số 1151-QĐ/QUTW ngày 30/11/2017 của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương; Quy định số 236/QĐ-CT của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị); cùng các báo cáo tổng kết CTĐ,CTCT và báo cáo công tác GD,ĐT từ năm 2020 đến nay.

Về phương pháp tiếp cận, luận án sử dụng phương pháp luận mác-xít kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành, phù hợp với tính chất nghiên cứu định tính kết hợp khảo sát thống kê mô tả thực tiễn:

  • Phương pháp lịch sử kết hợp logic: Sử dụng để tìm ra mối liên hệ bản chất, tính quy luật trong sự phát triển tư duy của Đảng, Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị và hoạt động CTĐ,CTCT trong quân đội theo tiến trình thời gian.
  • Phương pháp phân tích kết hợp tổng hợp: Khai thác và xử lý thông tin từ các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo kết quả hoạt động CTĐ,CTCT và GD,ĐT từ năm 2020 đến nay, phục vụ việc phân tích ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Ứng dụng chủ yếu tại Chương 3 để đánh giá thực tế tổ chức thực hiện các nghị quyết, đánh giá các mặt hoạt động CTĐ,CTCT và đúc rút bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê, đối chiếu số liệu liên quan đến kết quả hoạt động CTĐ,CTCT của CTV tại các đơn vị quản lý học viên qua các năm học và giữa các cơ sở đào tạo, bảo đảm độ tin cậy của thông tin.
  • Phương pháp dự báo: Xác định xu hướng biến đổi của tình hình thế giới, khu vực, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sự phát triển của công nghệ và sự chống phá của các thế lực thù địch tác động đến CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng hỏi, lựa chọn mẫu khảo sát bảo đảm tính đại diện tại cơ quan chính trị, cơ quan đào tạo và các đơn vị quản lý học viên của 07 cơ sở đào tạo được xác định.
STT Tên học viện, trường sĩ quan khảo sát Phân cấp quản lý trực thuộc
1 Học viện Hậu cần Trực thuộc Bộ Quốc phòng
2 Học viện Biên phòng Trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng
3 Học viện Phòng không - Không quân Trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân
4 Trường Sĩ quan Lục quân 1 Trực thuộc Bộ Quốc phòng
5 Trường Sĩ quan Lục quân 2 Trực thuộc Bộ Quốc phòng
6 Trường Sĩ quan Công binh Trực thuộc Binh chủng Công binh
7 Trường Sĩ quan Pháo binh Trực thuộc Binh chủng Pháo binh

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn kiện lãnh đạo của Đảng và Quân đội, báo cáo tổng kết thực tiễn CTĐ,CTCT, báo cáo công tác GD,ĐT từ năm 2020 đến nay, kết quả điều tra phiếu hỏi và dữ liệu quan sát thực tế tại 07 cơ sở nêu trên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 gồm ba tiết nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ tổng quan toàn diện các tài liệu học thuật trong và ngoài nước. Tác giả phân tích có hệ thống các ấn phẩm nghiên cứu về cán bộ, cán bộ chính trị trong lực lượng vũ trang và các công trình về CTĐ,CTCT. Các công trình ở nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc, Lào) đã cung cấp kinh nghiệm về thể chế hóa vị trí của người chính ủy, CTV, khẳng định vai trò "huyết mạch" của công tác chính trị và chế độ trách nhiệm của người cán bộ chủ trì chính trị. Các công trình trong nước đã làm rõ bản chất, nguyên tắc tiến hành CTĐ,CTCT trong từng giai đoạn cách mạng, khẳng định CTV là người chủ trì về chính trị tại đơn vị. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra luận điểm then chốt: các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu cán bộ chính trị ở đơn vị sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn bộ binh, địa phương hoặc cơ quan chiến lược; chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện, toàn diện về chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV tại các HV,TSQ quân đội. Từ đó, chương 1 xác lập 4 định hướng nghiên cứu tiếp theo để luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Chương 2 gồm hai tiết lớn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Tác giả thống kê hiện nay Quân đội nhân dân Việt Nam có 21 HV,TSQ (trong đó 9 cơ sở trực thuộc Bộ Quốc phòng và 12 cơ sở trực thuộc các tổng cục, quân chủng, binh chủng). Cấu trúc tổ chức của các nhà trường quân đội gồm: Ban Giám đốc (hoặc Ban Giám hiệu), cơ quan chức năng, viện nghiên cứu, khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên, đơn vị bảo đảm phục vụ và tạp chí chuyên ngành. Hệ thống tổ chức đảng được thành lập tương ứng từ đảng bộ HV,TSQ đến tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở hoặc chi bộ cơ sở) và chi bộ trực thuộc (ở đại đội, ban, bộ môn, lớp học).

Luận án đưa ra quan niệm xác định: CTV ở các HV,TSQ quân đội là cán bộ chính trị có đủ tiêu chuẩn được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ CTV đại đội, CTV tiểu đoàn (hệ); được đại hội chi bộ, đảng bộ bầu hoặc cấp có thẩm quyền chỉ định làm bí thư chi bộ, bí thư đảng ủy; là người chủ trì về chính trị, đảm nhiệm CTĐ,CTCT, cùng người chỉ huy xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác chung của đơn vị và chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp mình và cấp trên về toàn bộ hoạt động của đơn vị. Luận án phân tích sâu sắc 7 mối quan hệ công tác của CTV:

  • Quan hệ với đảng ủy, ban giám đốc (ban giám hiệu) HV,TSQ: là quan hệ giữa phục tùng sự lãnh đạo và lãnh đạo, chỉ đạo.
  • Quan hệ với phòng chính trị HV,TSQ: là quan hệ chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo và hướng dẫn, chỉ đạo về CTĐ,CTCT.
  • Quan hệ với giám đốc, hiệu trưởng và chính ủy HV,TSQ: là quan hệ cấp dưới và cấp trên.
  • Quan hệ với cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp: là quan hệ giữa phục tùng sự lãnh đạo và lãnh đạo.
  • Quan hệ với người chỉ huy cùng cấp (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, hệ trưởng): là quan hệ phối hợp công tác, cùng chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của đơn vị; trong trường hợp chưa thống nhất thì đưa ra cấp ủy thảo luận, nếu tình huống khẩn trương không họp được cấp ủy thì người chỉ huy có quyền quyết định và chịu trách nhiệm.
  • Quan hệ với cấp phó của người chỉ huy (phó đại đội trưởng, phó tiểu đoàn trưởng, phó hệ trưởng): là quan hệ cấp trên và cấp dưới.
  • Quan hệ với các tổ chức quần chúng (chi đoàn, đoàn cơ sở) và hội đồng quân nhân: là quan hệ giữa chỉ đạo, hướng dẫn và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn.

Tiết 2.2 của chương làm rõ nội hàm quan niệm, các yếu tố quy định và xác định hệ tiêu chí đánh giá chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội.

Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra về chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội

Chương 3 gồm hai tiết, đánh giá thực trạng giai đoạn từ năm 2020 đến nay dựa trên tư liệu và khảo sát tại 07 HV,TSQ. Tác giả nêu rõ những ưu điểm: đa số CTV nắm vững chức trách, nhiệm vụ; chủ động nghiên cứu và quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng; tham mưu đúng, trúng cho cấp ủy, chi bộ; trực tiếp chỉ đạo và tiến hành có nền nếp các mặt CTĐ,CTCT; phát huy tốt vai trò "người thầy tại chỗ", góp phần giữ vững trận địa tư tưởng và nâng cao chất lượng học viên. Về hạn chế: một bộ phận CTV năng lực tiến hành CTĐ,CTCT còn bất cập; nội dung và hình thức sinh hoạt chính trị, giáo dục tư tưởng còn rập khuôn, thiếu hấp dẫn; phương pháp tác phong công tác có biểu hiện thụ động, dựa dẫm vào cơ quan chính trị cấp trên; công tác nắm bắt, định hướng tư tưởng học viên có thời điểm chưa kịp thời; cá biệt vẫn có CTV vi phạm kỷ luật quân đội, suy thoái tư tưởng chính trị.

Luận án phản ánh kết quả thực tiễn thông qua hệ thống 5 biểu đồ khảo sát:

  • Biểu đồ 3.1: Biểu thị kết quả giáo dục chính trị ở một số đơn vị quản lý học viên thuộc các HV,TSQ quân đội.
  • Biểu đồ 3.2: Biểu thị kết quả hoạt động CTĐ,CTCT ở một số đơn vị quản lý học viên thuộc các HV,TSQ quân đội.
  • Biểu đồ 3.3: Biểu thị kết quả phân loại một số tổ chức đoàn, đoàn viên ở đơn vị quản lý học viên thuộc các HV,TSQ quân đội.
  • Biểu đồ 3.4: Biểu thị kết quả xây dựng đơn vị quản lý học viên vững mạnh toàn diện ở một số HV,TSQ quân đội.
  • Biểu đồ 3.5: Biểu thị kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ, khen thưởng và kỷ luật cán bộ là CTV ở một số HV,TSQ quân đội.

Tiết 3.2 phân tích nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của thực trạng, đồng thời khái quát những vấn đề đặt ra cần tháo gỡ: giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới, chuẩn hóa đào tạo theo mô hình trường học thông minh với trình độ, kỹ năng thực hành CTĐ,CTCT của một bộ phận CTV; hoàn thiện cơ chế, chính sách và môi trường rèn luyện thực tế cho đội ngũ này.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay

Chương 4 gồm hai tiết, tập trung xây dựng phương hướng và giải pháp. Tiết 4.1 dự báo bối cảnh tình hình: diễn biến nhanh chóng, khó đoán định của tình hình an ninh thế giới; sự điều chỉnh chiến lược và cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn; xung đột quân sự cục bộ; sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông; cùng âm mưu "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, chương xác định các yêu cầu cơ bản đối với việc nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT của CTV.

Tiết 4.2 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2035, trong đó luận án nhấn mạnh 02 giải pháp mới do tác giả đề xuất:

  • Giải pháp 1: Nâng cao chất lượng các mặt hoạt động CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. Tập trung đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao chất lượng công tác xây dựng tổ chức đảng (chi bộ, đảng bộ) trong sạch, vững mạnh; thực hiện nghiêm túc công tác cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận, chính sách và hoạt động của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân gắn chặt với nhiệm vụ GD,ĐT và nghiên cứu khoa học.
  • Giải pháp 2: Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay. Kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng tập trung theo kế hoạch của cấp trên với đề cao tính chủ động tự học tập, tự tu dưỡng rèn luyện của bản thân mỗi CTV; rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, phương pháp làm việc dân chủ, khoa học, sâu sát thực tế đơn vị, mẫu mực về lời nói và hành động.

Kết quả và những đóng góp mới

Văn bản luận án xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, phân định rõ giữa phương diện lý luận và phương diện thực tiễn:

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án xây dựng quan niệm khoa học, làm rõ nội dung, phương pháp, vai trò và đặc điểm CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội, gắn liền với tính đặc thù của môi trường đào tạo cán bộ quân sự.
  • Luận án xây dựng quan niệm, xác định rõ nội hàm và chỉ ra các yếu tố quy định chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam; thiết lập bộ tiêu chí đánh giá chất lượng phản ánh đúng tính chất công tác đảng, công tác chính trị tại đơn vị quản lý học viên.
  • Luận án góp phần làm sâu sắc hơn hệ thống lý luận của chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước về tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang và vai trò của người chủ trì về chính trị tại cơ sở giáo dục đại học quân sự.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Luận án cung cấp bức tranh thực trạng khách quan về chất lượng CTĐ,CTCT của CTV giai đoạn từ năm 2020 đến nay qua khảo sát thực tế tại 07 HV,TSQ điển hình; phân tích các nguyên nhân cốt lõi và làm rõ các vấn đề mâu thuẫn đang đặt ra trong thực tế.
  • Luận án đề xuất 02 giải pháp mới có giá trị ứng dụng trực tiếp đến năm 2035:
    1. Một là, Nâng cao chất lượng các mặt hoạt động CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.
    2. Hai là, Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.
  • Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp cấp ủy, chỉ huy, chính ủy và cơ quan chính trị ở các nhà trường quân đội tham khảo, vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quy hoạch và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chính trị cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản luận án, công trình có một số giới hạn và mở ra các định hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Hạn chế về phạm vi khảo sát thực tiễn: Toàn quân có 21 HV,TSQ, tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung điều tra, khảo sát thực tế tại 07 cơ sở đào tạo (Học viện Hậu cần, Học viện Biên phòng, Học viện Phòng không - Không quân, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Pháo binh). Các trường, viện còn lại thuộc khối y dược quân sự, khoa học kỹ thuật, nghiên cứu chiến lược chưa được khảo sát trực tiếp trong tập dữ liệu của đề tài.
  • Hạn chế về mốc thời gian số liệu: Dữ liệu điều tra xã hội học và tổng kết thực tiễn phục vụ luận án được giới hạn chủ yếu trong khung thời gian từ năm 2020 đến nay.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Các công trình tiếp theo có thể mở rộng địa bàn điều tra sang các học viện chuyên ngành kỹ thuật, y học quân sự hoặc nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa khối học viện đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến thuật với khối trường đào tạo sĩ quan phân đội; đồng thời tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả triển khai 02 giải pháp mới khi mô hình nhà trường thông minh được nhân rộng trong toàn quân sau năm 2030.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng và cơ quan chuyên trách:

  • Đối với cấp ủy, cán bộ chủ trì và cơ quan chính trị các HV,TSQ: Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng nghị quyết chuyên đề, lập kế hoạch công tác chính trị, quy hoạch, luân chuyển và bồi dưỡng chuẩn chức danh CTV ở các hệ, tiểu đoàn, đại đội quản lý học viên.
  • Đối với đội ngũ chính trị viên tại các nhà trường quân đội: Cung cấp cẩm nang tham khảo về nhận thức chức trách, chuẩn mực đạo đức, phương pháp tác phong và đặc biệt là cách thức xử lý 7 mối quan hệ công tác trong đơn vị cơ sở, giúp giải quyết thỏa đáng các tình huống phát sinh trong quản lý và giáo dục học viên.
  • Đối với cơ sở đào tạo và giảng viên chuyên ngành: Công trình là tài liệu tham khảo cho các học viện, trường sĩ quan, đặc biệt là Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong nghiên cứu, giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Phân tích chi tiết về 7 mối quan hệ công tác của CTV tại Chương 2 (với các chỉ dẫn giải quyết mối quan hệ chỉ huy - chính trị viên khi phát sinh bất đồng) và hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng CTĐ,CTCT cùng hai nhóm giải pháp mới tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiến hành khảo sát thực tiễn chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của chính trị viên tại những cơ sở đào tạo nào? Tác giả tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tại 07 học viện, trường sĩ quan quân đội đại diện cho các khối học viện, trường binh chủng, quân chủng và trực thuộc Bộ Quốc phòng, bao gồm: Học viện Hậu cần; Học viện Biên phòng; Học viện Phòng không - Không quân; Trường Sĩ quan Lục quân 1; Trường Sĩ quan Lục quân 2; Trường Sĩ quan Công binh; Trường Sĩ quan Pháo binh. Khung dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu từ năm 2020 đến nay.

2. Vị trí, vai trò của người chính trị viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội được luận án xác định như thế nào? Theo luận án, CTV ở các HV,TSQ quân đội là người chủ trì về chính trị tại đơn vị quản lý học viên (hệ, tiểu đoàn, đại đội), đảm nhiệm CTĐ,CTCT; đồng thời là bí thư đảng ủy, bí thư chi bộ. CTV cùng người chỉ huy chịu trách nhiệm toàn diện trước cấp ủy, người chỉ huy cấp trên và cấp ủy cấp mình về toàn bộ hoạt động của đơn vị; giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị và "người thầy tại chỗ" trực tiếp quản lý, giáo dục, định hình nhân cách sĩ quan cho học viên.

3. Khi xảy ra bất đồng ý kiến giữa chính trị viên và người chỉ huy cùng cấp, nguyên tắc giải quyết được quy định ra sao? Theo phân tích về mối quan hệ công tác giữa CTV và người chỉ huy (tiểu đoàn trưởng/đại đội trưởng) tại Chương 2: các vấn đề chưa thống nhất sẽ được đưa ra tập thể cấp ủy, chi bộ thảo luận và quyết định theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong các trường hợp khẩn trương không thể họp cấp ủy (như trong chiến đấu, phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, bão lũ) hoặc tình huống đột xuất ngoài phương án, hai bên trao đổi, thống nhất; nếu vẫn không đi đến thống nhất thì người chỉ huy được quyền quyết định để thực hiện nhiệm vụ, sau đó báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy và cấp trên. CTV có trách nhiệm động viên bộ đội chấp hành nghiêm mệnh lệnh của người chỉ huy.

4. Luận án đề xuất những giải pháp mới nào nhằm nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên? Luận án tự khẳng định đề xuất 02 giải pháp mới có giá trị định hướng đến năm 2035:

  • Một là: Nâng cao chất lượng các mặt hoạt động CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.
  • Hai là: Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của đội ngũ CTV ở các HV,TSQ quân đội giai đoạn hiện nay.

5. Cơ cấu hệ thống các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được luận án thống kê như thế nào? Luận án thống kê hiện tại Quân đội nhân dân Việt Nam có 21 HV,TSQ, chia làm hai nhóm quản lý: 9 cơ sở trực thuộc Bộ Quốc phòng (Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị, Học viện Lục quân, Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học viện Hậu cần, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Chính trị) và 12 cơ sở trực thuộc các tổng cục, quân chủng, binh chủng (Học viện Khoa học Quân sự, Học viện Hải quân, Học viện Phòng không - Không quân, Học viện Biên phòng, và các Trường Sĩ quan: Không quân, Kỹ thuật quân sự, Tăng thiết giáp, Thông tin, Công binh, Phòng hóa, Pháo binh, Đặc công).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Anh Ba là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV tại các HV,TSQ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở tổng quan học thuật và khảo sát thực tế tại 07 cơ sở đào tạo quân đội từ năm 2020 đến nay, luận án đã làm rõ chức trách, 7 mối quan hệ công tác, các tiêu chí đánh giá chất lượng, cùng nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động của đội ngũ CTV. Công trình đề xuất hai nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng các mặt hoạt động CTĐ,CTCT và rèn luyện phương pháp tác phong công tác cho CTV, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác xây dựng Đảng và đổi mới giáo dục, đào tạo trong quân đội định hướng đến năm 2035.