chương 1 Như vậy, từ góc nhìn của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân tộc là kết quả của sự phát triển xã hội qua các giai đoạn lịch sử và phương thức sản xuất là yếu tố quyết định sự hình thành và biến đổi của cộng đồng dân tộc. Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế phong kiến, còn ở phương Đông, dân tộc hình thành dựa trên nền văn hóa và tâm lý dân tộc phát triển. Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng chỉ một cộng đồng người ổn định, có lãnh thổ, kinh tế, ngôn ngữ và ý thức thống nhất; nghĩa hẹp chỉ một cộng đồng tộc người với mối liên hệ chặt chẽ, có chung ý thức tự giác, ngôn ngữ và văn hóa. Dân tộc có các đặc trưng như: chung một lãnh thổ, phương thức sinh hoạt kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa, và nhà nước.
Lãnh thổ xác định không gian sinh tồn và chủ quyền; phương thức sinh hoạt kinh tế là cơ sở gắn kết thành viên; ngôn ngữ là công cụ giao tiếp; văn hóa tạo nên bản sắc riêng; và nhà nước thể hiện quyền lực chính trị. Đặc trưng dân tộc theo nghĩa hẹp gồm cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Ngoài ra, Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh hai xu hướng phát triển dân tộc: xu hướng muốn tách ra thành cộng đồng độc lập và xu hướng liên kết, hợp tác giữa các dân tộc. Xu hướng thứ nhất là sự thức tỉnh và trưởng thành về ý thức dân tộc, thể hiện qua phong trào đấu tranh giành độc lập.
Xu hướng thứ hai là sự liên hiệp do phát triển của lực lượng sản xuất, giao lưu kinh tế và văn hóa, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau. Cuối cung, Cương lĩnh dân tộc của Lênin đề cao quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự quyết và sự liên hiệp công 12 nhân giữa các dân tộc. Trong đó, Quyền bình đẳng là cơ sở để thực hiện quyền tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, quyền tự quyết bao gồm quyền tách ra thành lập quốc gia độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác, nhưng phải đảm bảo lợi ích của giai cấp công nhân. Liên hiệp công nhân phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, tạo cơ sở vững chắc để đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Đặc điểm của dân tộc Việt Nam 2. Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, “trong số 54 dân tộc anh em của Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm số lượng áp đảo với hơn 82 triệu người, chiếm 85,32% tổng dân số Việt Nam. Tiếp theo là dân tộc Tày với 1,85 triệu người; dân tộc Thái đứng thứ ba với 1,82 triệu người; dân tộc Mường đứng thứ tư với 1,45 triệu người… Do các dân tộc này và các dân tộc còn lại (ngoại trừ dân tộc Kinh) chỉ chiếm từ 1,92% trở xuống nên đều được gọi là các dân tộc thiểu số.”1 Các dân tộc ở Việt Nam đa dạng về số lượng song có sự chênh lệch rất lớn giữa dân tộc Kinh và các nhóm dân tộc khác.
Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉ có quá ít sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hóa dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đưa ra những chủ trương, chính sách hướng đến việc hỗ trợ phát triển cho nhóm dân tộc thiểu số. Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau “Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Người Kinh có mặt trên khắp cả nước, nhưng địa bàn cư trú chủ yếu là đồng bằng, ven biển và trung du.
Còn hầu hết các dân tộc thiểu số không cư trú thành những khu vực riêng biệt, mà cư trú xen kẽ trên các vùng rừng núi, cao nguyên, biên giới.”2 Các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam từ thời xa xưa đã thường chuyển cư từ nơi này đến nơi khác dẫn đến việc các dân tộc sống phân tán và xen kẽ với nhau, không hình thành một địa bàn riêng cho từng dân tộc. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng. Tuy nhiên, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh 1 Thông tin Dân số. Dân số các dân tộc Việt Nam.
Truy cập từ https://danso.info/dan-so-cac-dan- toc-viet-nam/ 2 Biên phòng Việt Nam. Bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam - Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước. Truy cập từ https://tinyurl. 14 mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước.
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái. Suốt dọc biên giới phía Bắc và phía Tây có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước láng giềng.”1 Theo dữ liệu về dân số năm 2019, các dân tộc thiểu số dù chỉ chiếm dưới 15% dân số nhưng họ lại cư trú ở những vị trí chiến lược đối với quốc gia. Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực, như Thái, Khơ-me,. dẫn đến việc các thành phần phản động kích động, đòi ly khai gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị của đất nước.
Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều “Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau, có những dân tộc thiểu số trình độ thấp, đời sống có nhiều khó khăn, nhất là những dân tộc cư trú ở vùng điều kiện địa lý - tự nhiên khắc nghiệt, canh tác không ổn định.”2 Thực vậy, nhiều dân tộc ở vùng sâu vùng xa vẫn còn rất hạn chế về khả năng tiếp cận với nền văn hóa chung dẫn đến việc họ vẫn còn những điểm lạc hậu, kém phát triển và những hủ tục bất công. Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, phải từng bước giảm, tiến tới xóa bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn có những chính sách, định hướng hỗ trợ phát triển cho các nhóm người này để họ vừa bảo tồn bản sắc dân tộc vừa hướng đến sự bình đẳng giữa các dân tộc. 1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, (15/01/2018), Cộng đồng các dân tộc thiểu số trong khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, Truy cập từ http://mattran.vn/to-chuc-thanh-vien/cong-dong-cac-dan-toc-thieu-so-trong-khoi-dai-doan- ket-toan-dan-toc-viet-nam-11081.html 2 Biên phòng Việt Nam.
Bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam - Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước. Truy cập từ http://bienphongvietnam.vn/binh-dang-giua-cac-dan-toc-o-viet-nam-chinh-sach- nhat-quan-cua-dang-va-nha-nuoc. Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất “Các dân tộc ở Việt Nam luôn có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh để chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm, luôn chăm lo xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất với tinh thần “người trong một nước phải thương nhau cùng” ”1 Đặc trưng này được hình thành nhu cầu phải hợp sức để cùng đấu tranh chống ngoại xâm nên dân tộc Việt Nam đã hình thành sự đoàn kết từ rất sớm và tạo ra độ kết dính cao giữa các dân tộc. Đoàn kết dân tộc trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc ở Việt Nam.
Đây là một trong những nguyên nhân và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử. Ngày nay, để tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các dân tộc Việt Nam cần ra giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, đánh tan âm mưu chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất “Sức sống của dân tộc Việt Nam nằm ở sự gắn kết với đất đai và bản sắc văn hóa độc đáo. Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, từ ngôn ngữ, phong tục, truyền thống, cho đến trang phục và nghệ thuật.
Dân tộc Kinh, tạo nền văn minh cổ xưa của đất nước, với văn hóa phồn thịnh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các dân tộc khác. Trong khi đó, dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơ Mú, và nhiều dân tộc khác, vẫn duy trì và bảo tồn những nét độc đáo của họ qua thế hệ. Văn hóa của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong các lễ hội truyền thống, mà còn phản ánh qua nghệ thuật dân gian, âm nhạc, vũ điệu, và nghệ thuật sân khấu.”2 Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa, đa dân tộc. Văn hóa của các dân tộc Việt Nam có sự hài hòa với nhau bởi vì cùng tồn tại trong một lịch sử dựng nước và giữ nước.
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến chính sách dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn và toàn diện gắn liền với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 1 Biên phòng Việt Nam. Bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam - Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước. Truy cập từ http://bienphongvietnam.vn/binh-dang-giua-cac-dan-toc-o-viet-nam-chinh-sach- nhat-quan-cua-dang-va-nha-nuoc.
2 Sở Thông tin & Truyền thông UBND Tỉnh Bình Phước,(22/05/2023),Sức sống và đa dạng văn hóa của dân tộc Việt Nam, Truy cập từ https://binhphuoc.vn/vi/stttt/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/suc-song-va-da-dang- van-hoa-cua-dan-toc-viet-nam-1398. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam 2. Về chính trị Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc.