phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản 1.1 Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị Là nơi ra đời, phát triển các đảng chính trị và nghiên cứu đảng chính trị sớm trên thế giới, phương Tây đã để lại nhiều công trình nghiên cứu đảng phái chính trị với những công trình tiêu biểu như: - Các hệ thống chính trị Đông Âu và Các hệ thống chính trị Tây Âu (W.Ismayr chủ biên, 2002-2003); Các chính Đảng châu Âu trong hợp tác và hội nhập (chủ biên K. Hai tác phẩm này đã đề cập đến các đảng chính trị ở Anh, Pháp; tuy nhiên nội dung nghiên cứu chủ yếu mới dừng lại ở so sánh một số đặc điểm và ưu thế của các đảng chính trị ở hai quốc gia này.
- Political parties and political development (chủ biên Joseph LaPalombara, Myron Weiner, 1966). Công trình này tập hợp một số chuyên đề về đảng chính trị, sự tồn tại và phát triển của đảng chính trị; chưa đi sâu vào nguồn gốc, bản chất của đảng chính trị. - Các đảng phái chính , chủ biên Maurice Duverger (1969): các tác giả của công trình này bàn về lý thuyết hệ thống đảng chính trị, văn hóa chính trị và lý thuyết bầu cử. - Công trình nghiên cứu Đảng chính trị của các tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt: Đảng chính trị-Chiến lược và sự quản lý (chủ biên V.
Meytus, 2010) chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận về đảng chính trị, xây dựng chiến lược phát triển và duy trì sự tồn tại của Đảng, về cơ cấu tổ chức đảng chính trị ở Mỹ. 7 luan an - Sách Đảng chính trị phương Tây và Cộng hòa Liên bang Đức (Lương Văn Kế chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009) cung cấp những vấn đề lý luận về đảng chính trị, thể chế chính trị ở một số nước phương Tây. Tác giả đã giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của các đảng chính trị; những kinh nghiệm về lãnh đạo, tranh quyền và cầm quyền, xây dựng và phát triển của các đảng chính trị; kinh nghiệm điều chỉnh chiến lược, sách lược của các đảng chính trị hiện nay. Tác giả cũng quan tâm nhận diện về đảng cánh tả và đảng cánh hữu ở phương Tây mà rõ nhất là ở nước Đức và Mỹ.
Ông cho rằng: ở phương Tây cũng không có sự thống nhất về tiêu chí phân chia khuynh hướng tư tưởng chính trị thành cánh tả và cánh hữu. Người châu Âu hiểu đảng cánh tả là đảng mang cách nhìn chiều ngang (horizontal), ủng hộ sự công bằng, cải cách xã hội và hướng tới tương lai; còn đảng cánh hữu có khuynh hướng nhìn theo chiều thẳng đứng (vertical), theo đuổi quan điểm duy trì tôn ti, có tính bảo thủ, công bằng xã hội và coi trọng giá trị tôn giáo. Trong khi đó người Mỹ cho rằng, không riêng gì các đảng cánh tả theo đuổi giá trị công bằng mà ngay các chính đảng thiên hữu cũng nói nhiều về công bằng (justic). Có người hiểu tả là vì lợi ích của người lao động, ủng hộ sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế; còn hữu là vì lợi ích của giới chủ, khước từ can thiệp của nhà nước.
Tuy nhiên trên đại thể, các thủ lĩnh chính đảng khá nhất trí với nhau rằng: phân chia tả - hữu là những khuôn khổ định hướng nhằm tranh thủ cử tri trong bầu cử. Đây là cuốn sách rất có giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu các đảng chính trị ở phương Tây, đặc biệt là đảng chính trị ở nước Đức. - Bài báo Vai trò các đảng chính trị nói chung, đảng cầm quyền nói riêng đối với nhà nước trong chủ nghĩa tư bản hiện đại (Qua khảo sát một số mô hình tiêu biểu) của Nguyễn Xuân Tế và Đặng Đình Thành (2013), Tạp chí Khoa học pháp lý (1), tr. Bài viết được thiết kế theo hai hướng trọng điểm chính: 8 luan an Thứ nhất: Vị trí đảng chính trị và đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị (HTCT) ở các nước tư bản.
Theo hướng này, các tác giả chỉ ra rằng: Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng trong HTCT của các nước tư bản. Nó có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của chế độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của HTCT. Đây là một tổ chức chính trị phản ánh lợi ích của giai cấp, nó liên kết, lãnh đạo những người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội đó để cùng thực hiện đạt những mục tiêu và lý tưởng nhất định. Một trong những vai trò rất quan trọng của các Đảng chính trị là vai trò đối lập của đảng không cầm quyền.
Sự đối lập này thể hiện rất rõ trong hoạt động các đảng chính trị của nhà nước tư sản Anh, Mỹ - nơi điển hình của hệ thống lưỡng đảng. Ngoài Chính phủ đang cầm quyền, pháp luật Anh còn cho phép thành lập Nội các trong bóng tối của các đảng đối lập, có nhiệm vụ tìm ra những khiếm khuyết trong chính sách của đảng cầm quyền, giám sát những người đang làm nhiệm vụ cai trị đất nước dưới sự hướng dẫn của đảng cầm quyền. Đây được gọi là sự đối lập có trách nhiệm, ch ng có tác dụng nhất định gi p nhà nước tư sản thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định của mình. Thứ hai: nghiên cứu vai trò đảng cầm quyền đối với nhà nước, các tác giả cho rằng: Muốn trở thành đảng cầm quyền thì đảng chính trị phải giành quyền lực nhà nước và trở thành đảng cầm quyền thông qua con đường tuyển cử và đấu tranh ở Quốc hội.
Mặt khác, để các đảng chính trị thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và được điều hành ổn định, cần phải xây dựng và thực hiện một chế độ bầu cử trên nguyên tắc dân chủ, tự do, công bằng. Đồng thời, phương pháp chọn đại biểu và quy chế về khu vực bầu cử cũng cần được quan tâm, tính toán sao cho phù hợp với cơ cấu chính trị và truyền thống của quốc gia. 9 luan an Nội dung cốt lõi nhất của bài viết này là các tác giả đề cập đến điều kiện một đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền một cách hợp pháp bằng các giá trị mới. Phương thức này thể hiện qua cương lĩnh tranh cử, thông qua con đường bầu cử hợp pháp, công bằng và dân chủ.
Công trình này có giá trị tham chiếu quan trọng trong quá trình phân tích lịch sử phát triển của đảng cầm quyền tại Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về Đảng lãnh đạo: - Nguyễn Hữu Đổng và Ngô Huy Đức (2013), Nhận thức khái niệm Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận Chính trị (27/9). Hai nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảng lãnh đạo cơ bản kế thừa quan điểm của V.Lênin, và theo Người: Lãnh đạo là làm đầy tớ nhân dân, đảng lãnh đạo nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Các tác giả cũng làm rõ các nội dung chủ yếu Đảng lãnh đạo và một phần về Đảng cầm quyền theo quan điểm của Hồ Chí Minh: Thứ nhất, Đảng lãnh đạo là một khái niệm chỉ sự tác động, ảnh hưởng của đảng qua các tổ chức đảng và đảng viên đến với quần ch ng nhân dân.
Thứ hai, Đảng lãnh đạo là một khái niệm không gắn với quyền lực - Tức là đảng không dựa vào quyền lực (quyền lực được hiểu theo nghĩa có sự cưỡng bức, ép buộc) trong sự ảnh hưởng, trong quá trình tác động của chủ thể lãnh đạo là đảng đến đối tượng lãnh đạo là quần ch ng nhân dân (hay sự lãnh đạo của đảng đối với quần ch ng nhân dân có đặc điểm là sự vận động mang tính thuyết phục). Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tiếp theo, các tác giả chỉ ra Đảng cầm quyền là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay khi xã hội bắt 10 luan an đầu hình thành các đảng chính trị. Các nội dung trong bài viết là tài liệu tham khảo có giá trị trong luận án.
Nguyễn Hữu Đổng (2012), Phân biệt hoạt động lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay , Tạp chí Lý luận Chính trị số 1. Trong bài viết, tác giả cho rằng, trong HTCT của bất kỳ quốc gia nào hiện nay đều có các bộ phận cấu thành cơ bản, đó là: Đảng chính trị; nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Đảng chính trị thực chất là các tổ chức chính trị thể hiện lợi ích của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội liên kết những đại diện ưu t nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục tiêu và lý tưởng nhất định. Mục tiêu của đảng chính trị nói chung trước hết là giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó để thực hiện các định hướng chính trị, đạt được lợi ích của đảng.
Khi giành được quyền lực nhà nước, đảng đó trở thành đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay từ khi trong xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị. Đảng cầm quyền được hiểu là đảng nắm giữ những vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước (BMNN) để kiểm soát quá trình hoạch định và thực thi các chính sách quốc gia. Điều đó cũng có nghĩa, đảng cầm quyền là đảng điều khiển, kiểm soát người của mình trong BMNN thực hiện các mục tiêu phát triển của đảng thông qua các chính sách của nhà nước.
Đảng cầm quyền và đảng lãnh đạo là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Đây là quan điểm nhìn nhận đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền dưới góc độ so sánh tính chất dựa trên các hoạt động và mục đích hoạt động chính trị mà tác giả đã đi đến kết luận có sự khác nhau nhưng tựu chung các đảng chính trị đều có xu hướng đấu tranh để trở thành đảng cầm quyền.