đặt vấn đề phân biệt các khái niệm “dân tộc”, quốc gia và quốc gia - dân tộc. Từ dân tộc có nguồn gốc Latinh nghĩa là “sinh ra”, nên dân tộc thƣờng để diễn tả một cộng đồng văn hóa, ngôn ngữ, sắc tộc. Khái niệm dân tộc thƣờng để chỉ một cộng đồng ngƣời gắn kết với nhau bởi các mối quan hệ huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống và lịch sử chung. Điều quan trọng đối với dân tộc là tình cảm thuộc về nhau hoặc là cùng chung mục đích [53, tr.
41-42] vì nhƣ quan điểm của Benedict Anderson thì ngay cả một dân tộc nhỏ nhất mọi ngƣời cũng không thể biết nhau, gặp mặt nhau hoặc nghe tiếng của nhau nên dân tộc chính là “cộng đồng chính trị tưởng tượng”. Quốc gia là một đơn vị chính trị với mức độ cao về chủ quyền. Một quốc gia phải có chủ quyền trong khi một dân tộc có thể không có chủ quyền. Quốc gia - dân tộc liên quan đến một thể chế chính trị kết hợp những quan niệm về dân tộc và về quốc gia.
Khái niệm này đề cập đến một quốc gia, nơi có một cộng đồng ngƣời sinh sống tự đồng nhất mình là một dân tộc vì cùng chia sẻ những mối liên hệ về văn hóa, lịch sử ngôn ngữ, sắc tộc và những giá trị khác. Chủ nghĩa dân tộc: mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhƣng 14 về cơ bản, thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc” dùng để mô tả hai hiện tƣợng: Thứ nhất là thái độ của thành viên của một quốc gia về bản sắc dân tộc của họ. Thứ hai là hành động của thành viên của một dân tộc nhằm giành (hay duy trì) quyền dân tộc tự quyết. Bên cạnh khái niệm “chủ nghĩa dân tộc”, còn cái khái niệm “chủ nghĩa quốc gia”, “chủ nghĩa yêu nước”.
Nội hàm của ba khái niệm này có điểm chồng lấp nhƣng không hoàn toàn trùng khít. Chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa dân tộc đều đƣợc dịch từ khái niệm “nationalism” trong tiếng Anh, nhƣng do sự khác biệt trong các khái niệm “dân tộc”, “quốc gia” và “quốc gia-dân tộc” nhƣ đã trình bày ở trên nên tác giả lựa chọn sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa dân tộc” trong luận văn này. Ngoài ra, cần phân biệt giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa yêu nƣớc. Đây là những khái niệm rất khó phân biệt và nhiều tác giả thƣờng sử dụng thay thế cho nhau.
Tuy nhiên, theo Elie Kedourie trong tác phẩm Nationalism thì chủ nghĩa dân tộc là một học thuyết triết học, chính trị về dân tộc, nhƣ một đơn vị cơ bản của nhân loại - nơi mà các cá nhân có thể tìm thấy tự do trong khi chủ nghĩa yêu nƣớc thuần túy chỉ là tình cảm yêu mến đối với đất nƣớc. Nói cách khác, chủ nghĩa dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủ nghĩa yêu nƣớc liên quan tới quan niệm, tình cảm nhiều hơn. Vì vậy, tác giả luận văn sử dụng khái niệm “chủ nghĩa dân tộc” khi trình bày về tƣ tƣởng của các đảng chính trị. Việt Nam, do vị trí địa lý đặc thù luôn phải cố kết dân tộc để chống thiên tai và ngoại xâm nên dân tộc và chủ nghĩa dân tộc hình thành sớm.
Chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa hiện đại hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ nửa cuối thế kỷ XIX là sự tiếp nối chủ nghĩa dân tộc phong kiến trong điều kiện lịch sử mới: khẳng định chủ quyền dân tộc với các thế lực ngoại bang, trên cơ sở đó chuyển đổi một nhà nƣớc - dân tộc mang nội dung phong kiến, cổ truyền sang một nhà nƣớc - dân tộc hiện đại mang nội dung công nghiệp hoá và dân chủ hóa. Khi nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam trƣớc năm 1945, giới sử học thƣờng phân thành hai bộ phận chính: chủ 15 nghĩa dân tộc cách mạng và chủ nghĩa dân tộc cải lƣơng. Chủ nghĩa dân tộc cách mạng: Theo định nghĩa của Trần Văn Giàu: “Là tư tưởng chính trị thuộc các hạng tiểu tư sản chủ trương đi đến giành độc lập cho nước nhà bằng bạo động cách mạng đánh đổ đế quốc thực dân. Chủ nghĩa dân tộc cách mạng có thể được biểu hiện khác nhau bằng đảng chính trị, bằng hội văn hóa, bằng cơ quan ngôn luận, có khi bằng đoàn thể đượm màu sắc văn hóa nữa… Tất nhiên, những tổ chức làm tay sai cho bọn quân phiệt ngoại bang hoặc cho bọn đế quốc thực dân khác Nhật, Tưởng, Pháp, v.v…) thì không thể được xếp vào phạm trù “chủ nghĩa dân tộc cách mạng” đƣợc [21, tr.
Chủ nghĩa dân tộc cải lương: Theo định nghĩa của Lênin: “Nói chung, chủ nghĩa cải lương là như thế này: người ta chỉ cổ động để thực hành những sự cải tiến mà không đòi tiêu diệt những cơ sở chủ yếu của giai cấp thống trị mới cũ, thực hành sự cải tiến phù hợp với sự duy trì những cơ sở đó” [21, tr. Khái niệm này của Lê Nin đƣợc Trần Văn Giàu sử dụng lần đầu, sau đó đƣợc giới nghiên cứu Việt Nam thừa nhận. Chủ nghĩa dân tộc cải lƣơng chỉ yêu cầu thực dân Pháp thực hiện những cải cách trong khuôn khổ chế độ thuộc địa mà không động chạm đến chủ quyền của nƣớc Pháp, chống lại mọi hình thức đấu tranh bằng bạo lực cách mạng của nhân dân. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu có xu hƣớng sử dụng khái niệm “chủ nghĩa dân tộc ôn hòa” thay thế cho khái niệm “chủ nghĩa dân tộc cải lương”.
Những điều kiện hình thành các đảng phái ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 1.Những điều kiện kinh tế - xã hội Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứ hai (1919- 1929) đã làm nền kinh tế và xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc, làm cơ sở cho những biến cố chính trị nói chung và là điều kiện của sự hình thành các đảng phái chính trị ở Việt Nam nói riêng. 16 Dƣới tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa, đã làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Việt Nam truyền thống. Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, các ngành kinh tế mới đã ra đời nhƣ công nghiệp, thƣơng nghiệp, các ngành tài chính, giao thông v. Việc sử dụng phƣơng thức kinh doanh theo lối tƣ bản chủ nghĩa đã tạo ra sức phát triển nhanh chóng của lực lƣợng sản xuất.
Nền kinh tế hàng hoá đã bắt đầu hình thành và phát triển ở một số khu vực sản xuất, hoạt động kinh tế Việt Nam đã vƣơn khỏi biên giới quốc gia để tiếp cận và từng bƣớc hội nhập với nền kinh tế thế giới. Cơ cấu một nền kinh tế thuộc địa có tính tƣ bản chủ nghĩa đƣợc hình thành rõ nét. Trên cơ sở những biến đổi về kinh tế, các thành phần giai cấp xã hội tƣơng ứng dần biến đổi theo. Trong khi các lực lƣợng đại diện cho xã hội cũ nhƣ địa chủ, nông dân ngày càng bị phân hoá sâu sắc thì các lực lƣợng xã hội mới nhƣ tƣ sản, công nhân, tiểu tƣ sản cũng ra đời, phát triển và từng bƣớc trƣởng thành nhanh chóng cùng với sự mở rộng của các thành phần kinh tế mới - tƣ bản chủ nghĩa.
Chính những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đã dẫn đến những chuyển biến mới trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục Việt Nam, hệ thống giáo dục các cấp từ tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học từng bƣớc đƣợc hình thành. Trong bối cảnh đó, các trào lƣu tƣ tƣởng mới, các thành tựu khoa học và kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật từ phƣơng Tây có điều kiện thâm nhập vào Việt Nam, cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn hoá Á – Âu diễn ra phong phú. Bên cạnh đó, việc in ấn, xuất bản và giới thiệu các công trình khoa học về tự nhiên, về triết học, luật học của các học giả phƣơng Tây đã góp phần làm thay đổi phƣơng pháp tƣ duy của một bộ phận dân chúng, đặc biệt là lớp trí thức Tây học. Trong những tiền đề xã hội dẫn đến hình thành của đảng phái chính trị ở Việt Nam thì sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân, tƣ sản và tiểu tƣ sản (đặc biệt là đội ngũ trí thức Tây học) là những tiền đề quan trọng.
Lớp trí 17 thức Tây học chính là bộ phận đã tiếp nhận và truyền bá những khuynh hƣớng tƣ tƣởng mới mà họ lựa chọn vào nƣớc ta. Giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản là nền tảng xã hội để những khuynh hƣớng tƣ tƣởng đó có thể bắt rễ trên mảnh đất Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của những tổ chức chính trị. Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tập trung ở các khối công nhân đƣờng sắt (và các khu vực khác của cơ sở hạ tầng kinh tế: đƣờng bộ, bến cảng, thuỷ nông), khai thác mỏ, kinh doanh công thƣơng nghiệp, đồn điền. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, số lƣợng công nhân Việt Nam tăng lên đáng kể do Việt Nam phải cung cấp nhân công cho chính quốc, thay thế số công nhân Pháp bị đƣa ra mặt trận.
Một lý do khác, không kém phần quan trọng là trong chiến tranh, kinh tế Đông Dƣơng đƣợc đẩy mạnh để cung cấp hàng hóa cho chính quốc và đảm bảo sinh hoạt tại Đông Dƣơng. Cùng với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo. Tính đến 1929, riêng số công nhân trong các doanh nghiệp của ngƣời Pháp ở Đông Dƣơng (chủ yếu Việt Nam) là 221.050 ngƣời, tăng gấp 4 lần so với đầu thế kỷ XX [45, tr. Điều kiện sống và lao động của công nhân rất cực khổ.
Bị áp bức nặng nề nên giai cấp công nhân Việt Nam sớm có tinh thần đấu tranh. Mặc dù lực lƣợng của họ trong toàn bộ dân cƣ không lớn, nhƣng họ lại sống khá tập trung tại các thành thị và các trung tâm công nghiệp. Tinh thần kỷ luật, ý thức đoàn kết của công nhân cũng đƣợc rèn luyện qua quá trình lao động và đấu tranh. Ra đời ở một nƣớc thuộc địa xuất thân từ nông dân nên rất thuận lợi cho Đảng xây dựng khối liên minh công – nông.
Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành trƣớc giai cấp tƣ sản, sớm đƣợc giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vƣơn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ý thức giác ngộ cách mạng của giai cấp công nhân ngày càng đƣợc nâng cao k hi ch ủ n ghĩa Mác – Lênin đƣợc truyền bá vào Việt Nam.