ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP NHỎ 1 MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI: TRÊN CƠ SỞ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG (1930 – 1945), LÀM RÕ QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC LỚP TT01 --- NHÓM 01 --- HK241 NGÀY NỘP 23/09/2024 Giảng viên hướng dẫn: TS. Đào Thị Bích Hồng Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Bùi Trung Kiên 2151106 Cao Minh Tuấn 2151159 Cao Thị Vân Anh 2151001 Cao Vũ Thiên Phú 2051168 Châu Hồng Phước 2051175 Trần Lê Thiên 2051195 Đặng Khôi Nguyên 2151235 Đào Minh Tùng 2051214 Đỗ Võ Kim Khuê 2152142 Thành phố Hồ Chí Minh – 2024 MỤC LỤC I. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1930 - 1935. Luận cương chính trị (10/1930).
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất (03/1935). Tiểu kết về giai đoạn 1930 - 1935. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1936 - 1939. Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ dân sinh (07/1936).
Chung quanh vấn đề chiến sách mới (10/1936). Tiểu kết về giai đoạn 1936 - 1939. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1939 – 1945. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (11/1939).
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (11/1940). Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (05/1941). Tiểu kết về giai đoạn 1939 - 1945. TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN 1930 - 1945.
TÀI LIỆU THAM KHẢO. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG NHỮNG NĂM 1930 - 1935 1. Luận cương chính trị (10/1930) Về bối cảnh thế giới, năm 1929, cuộc Đại khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ Mỹ đã lan rộng, gây ra ảnh hưởng nặng nề cho các quốc gia trên toàn cầu, đặc biệt là các nước châu Âu. Để đối phó với khủng hoảng, một số nước tư bản như Đức, Ý, và Nhật Bản đã chọn con đường phát xít hóa.
Trong khi đó, Liên Xô thực hiện quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và tập thể hóa nông nghiệp, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, qua đó tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam. Về tình hình trong nước, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp ngày càng gay gắt, nhiều thứ thuế bị áp đặt, quyền tự do bị hạn chế. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra chống thực dân Pháp nhưng bị đàn áp khốc liệt, tiêu biểu là khởi nghĩa Yên Bái tháng 2-1930. Dựa trên thực tiễn cuộc sống, kết hợp với các chỉ đạo từ Quốc tế Cộng sản và kế thừa, phát triển các văn kiện “Chính cương vắn tắt” và “Sách lược vắn tắt” do Nguyễn Ái Quốc đề ra tại Hội nghị thành lập Đảng, Trần Phú đã soạn thảo và hoàn thiện bản Luận cương Chính trị.
Văn kiện này được Trung ương Đảng thảo luận và thông qua trong Hội nghị lần thứ nhất, diễn ra từ ngày 14 đến 31/10/1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc). Luận cương Chính trị là một văn kiện lịch sử quan trọng, khẳng định năng lực lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc đề ra đường lối cách mạng, lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên lật đổ chế độ thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc và tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cách mạng Về nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ này có quan hệ khăng khít với nhau.
Trong đó, “vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”. Luận cương chính trị tháng 9/1930 đã đưa ra một chiến lược tổng quát cho phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: Tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa đấu tranh thẳng lên con đường XHCN. Nhiệm vụ của cách 2 mạng tư sản dân quyền: đánh đổ phong kiến, thực hành triệt để thổ địa cách mạng; đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó thổ đại cách mạng là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền.
Lực lượng cách mạng Vô sản là động lực chính, nông dân là động lực mạnh và bộ phận phần tử lao khổ.Về phương pháp cách mạng: Phải dùng võ trang bao động và theo khuôn phép nhà binh. Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới.Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng. Luận cương nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo chủ chốt của cách mạng. Công nhân được xem là giai cấp tiên tiến nhất, có tổ chức và kỷ luật cao.
Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, công nhân không chỉ tham gia tích cực vào cách mạng mà còn đóng vai trò lãnh đạo toàn bộ phong trào cách mạng. Công nhân là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tầng lớp tư bản bản địa. Do đó, họ có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống lại các hình thức bóc lột tàn bạo trong các xí nghiệp, hầm mỏ, nhà máy. Đồng thời, công nhân là lực lượng có ý thức giai cấp rõ rệt và được trang bị tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó có khả năng lãnh đạo toàn bộ phong trào cách mạng.
Luận cương xác định rằng nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ và là động lực quan trọng cho cách mạng. Nông dân chiếm phần lớn dân số, chịu đựng sự bóc lột kép từ thực dân và địa chủ phong kiến. Chính vì vậy, họ có khát khao giải phóng và mong muốn thay đổi mạnh mẽ. Nhiệm vụ cách mạng quan trọng là phải giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, từ đó tạo điều kiện để họ ủng hộ và tham gia vào cách mạng.
Liên minh công - nông được đề cao trong Luận cương, xem đó là nền tảng vững chắc cho cách mạng thành công. Sự đoàn kết giữa hai giai cấp này sẽ tạo ra sức mạnh to lớn để đối phó với kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Mặc dù Luận cương không xếp tầng lớp tiểu tư sản vào lực lượng cách mạng chủ chốt, nhưng vẫn nhấn mạnh khả năng tranh thủ và lôi kéo tầng lớp này vào phong trào cách mạng. Tiểu tư sản, bao gồm trí thức, học sinh, sinh viên, và những người buôn bán 3 nhỏ, cũng bị ảnh hưởng bởi sự bóc lột của thực dân và phong kiến, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn.
Nhiều người trong tầng lớp này có tư tưởng yêu nước và mong muốn đấu tranh cho độc lập dân tộc, do đó có thể là đồng minh tạm thời trong giai đoạn đầu của cách mạng. Tuy nhiên, Luận cương cũng cảnh báo rằng đây là tầng lớp có thể dao động về mặt lập trường, nên cần phải có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng để đảm bảo họ không đi chệch hướng hoặc phản bội. Luận cương tỏ ra thận trọng với giai cấp tư sản dân tộc, coi đây là một lực lượng không đáng tin cậy và không thể trở thành đồng minh của cách mạng vô sản. Tư sản dân tộc, mặc dù cũng có một phần mong muốn giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ thực dân, nhưng lại không muốn thực hiện cách mạng triệt để vì họ sợ mất quyền lợi kinh tế của mình.
Họ có thể chỉ tham gia cách mạng trong một mức độ hạn chế và chủ yếu vì lợi ích cá nhân. Luận cương cũng nhấn mạnh rằng tư sản dân tộc sẽ không ủng hộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, bởi điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến địa vị và quyền lợi của họ. Luận cương xác định rằng giai cấp địa chủ phong kiến là kẻ thù chính của cách mạng, cần phải lật đổ. Địa chủ phong kiến là lực lượng bóc lột nông dân tàn bạo và cấu kết với thực dân Pháp để duy trì sự thống trị của họ.
Vì vậy, đây là giai cấp mà cách mạng cần phải triệt để đấu tranh, tước bỏ quyền lực và đất đai của họ để giao cho nông dân. Mục tiêu của cách mạng là xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, phá bỏ mọi hình thức bóc lột của giai cấp địa chủ đối với nông dân. Luận cương không chỉ giới hạn lực lượng cách mạng ở trong nước mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết với phong trào cách mạng vô sản quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ và lãnh đạo của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản. Phong trào cách mạng Việt Nam là một phần của cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới, do đó cần phải dựa vào sự hỗ trợ quốc tế để có thể giành thắng lợi trước kẻ thù mạnh như đế quốc Pháp.
Việc liên kết với phong trào công nhân thế giới cũng là cách để bảo vệ và phát triển cách mạng Việt Nam trong một bối cảnh quốc tế phức tạp. Luận cương chính trị tháng 10/1930 là một văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Đông Dương, trong đó đề ra nhiều nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng Việt Nam. Một trong những điểm nổi bật của luận cương là cách tiếp cận vấn đề dân tộc trong cuộc 4 đấu tranh giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến. Tuy nhiên, phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc trong luận cương này còn có những hạn chế nhất định.
Luận cương tháng 10/1930 đặt trọng tâm vào cuộc đấu tranh giai cấp và nhấn mạnh cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng vô sản, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Theo đó, luận cương tập trung vào việc lật đổ giai cấp tư sản và địa chủ phong kiến, đồng thời xây dựng chính quyền Xô-viết của công nông. Do chú trọng quá mức vào cách mạng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giai cấp, luận cương không thực sự đề cao và nhận thức sâu sắc vấn đề dân tộc độc lập – điều cấp bách hơn cả trong bối cảnh xã hội Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ. Nhiệm vụ dân tộc giải phóng được đặt trong mối quan hệ phụ thuộc vào nhiệm vụ cách mạng vô sản, làm cho phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc bị thu hẹp.