Vai Trò Của Nguyễn Ái Quốc Trong Sáng Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Tìm hiểu sâu sắc vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ebook cung cấp cái nhìn toàn diện, phân tích chi tiết về sự kiện lịch sử trọng đại này.

Trường đại học

Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách Chuyên Khảo

2014

203
27
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI TÁC GIẢ

1. CHƯƠNG 1: NGUYỄN ÁI QUỐC CHỦ ĐỘNG TÌM ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM

1.1. Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

1.2. Tình hình thế giới

1.3. Tình hình Việt Nam

1.4. Nguyễn Ái Quốc xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản

1.5. Xác định hướng đi tìm đường giải phóng dân tộc Việt Nam

1.6. Xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: NGUYỄN ÁI QUỐC CHUẨN BỊ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VÀ TỔ CHỨC CHO SỰ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.1. Chuẩn bị về tư tưởng chính trị

2.2. Xây dựng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc

2.3. Truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam

2.4. Chuẩn bị về tổ chức

2.5. Nhận thức vai trò của tổ chức cách mạng

2.6. Thành lập tổ chức cách mạng tiền thân và đào tạo cán bộ

3. CHƯƠNG 3: NGUYỄN ÁI QUỐC THỐNG NHẤT CÁC TỔ CHỨC CỘNG SẢN THÀNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

3.1. Triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

3.2. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung Hội nghị hợp nhất

3.3. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

3.4. Bước ngoặt lịch sử

3.5. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng nước ta

3.6. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đáp ứng nhu cầu giải phóng và phát triển dân tộc Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH SÁNG LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

4.1. Sáng tạo tư tưởng về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

4.2. Từ phê phán chủ nghĩa thực dân đến lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản

4.3. Từ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

4.4. Sáng tạo trong hoạt động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

4.5. Chủ động, quyết định trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

4.6. Lựa chọn lộ trình phù hợp trong quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vai Trò Nguyễn Ái Quốc Sáng Lập Đảng CSVN

Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh, là biểu tượng vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người đã khai sinh và rèn luyện Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người là một trong những nhà chính trị ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, một nhân vật lịch sử đã trở thành huyền thoại, được ghi nhớ không chỉ là người giải phóng dân tộc mà còn là một nhà hiền triết hiện đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc, là một cống hiến lớn lao vào kho tàng văn hóa tư tưởng của nhân loại. Chính vì vậy, nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình sáng lập Đảng là vô cùng quan trọng. Bài viết này đi sâu vào quá trình đó, làm sáng tỏ những đóng góp to lớn của Người.

1.1. Nghiên Cứu Lịch Sử Tầm Quan Trọng Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nghị quyết 09-NQ của Bộ Chính trị khóa VII cũng nhấn mạnh rằng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là học thuyết cách mạng và khoa học, là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ to lớn, lâu dài, đòi hỏi sự đóng góp trí tuệ của nhiều nhà khoa học. Đây là sự tổng kết lịch sử, vạch rõ nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ.

1.2. Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Hiện Tại

Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Điều này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ đối với quá khứ, hiện tại, mà còn tỏa sáng đến tương lai. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn những cống hiến của Hồ Chí Minh vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

II. Cách Nguyễn Ái Quốc Xác Định Đường Lối Giải Phóng Dân Tộc

Với ý chí độc lập và lòng khát khao tự do, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã xác định con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho Việt Nam. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trên cơ sở nắm vững phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, qua nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xây dựng lý luận và xác lập được một hệ thống quan điểm cách mạng toàn diện, khoa học để truyền bá vào Việt Nam, xây dựng tổ chức cách mạng, tiến tới thành lập một đảng cách mạng - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam về sau.

2.1. Chủ Nghĩa Mác Lênin Nền Tảng Tư Tưởng Cách Mạng

Quá trình này cho thấy Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta với tất cả những đặc điểm lịch sử, kinh tế văn hóa, xã hội và con người Việt Nam. Người đã Việt Nam hóa một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về giải phóng dân tộc, từng bước truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào dân tộc nước ta chuyển biến mạnh mẽ theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh. Đây là một cống hiến đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.

2.2. Truyền Bá Lý Luận Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc Vào Việt Nam

Chính lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh được truyền bá vào Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố có vai trò quyết định hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Cần tiếp tục được nghiên cứu nhằm làm sáng rõ hơn vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh trong việc hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả sưu tầm, hệ thống hóa sử liệu liên quan đến quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, trong đó có cập nhật những sử liệu mới trong Hồ Chí Minh toàn tập, Văn kiện Đảng toàn tập.

III. Bí Quyết Nguyễn Ái Quốc Chuẩn Bị Ra Đời Đảng Cộng Sản

Những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc về vai trò của một chính đảng cách mạng. Người đã chủ động xây dựng hệ thống lý luận, chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là giai đoạn quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và khả năng tổ chức tài tình của Nguyễn Ái Quốc, tạo tiền đề vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

3.1. Xây Dựng Lý Luận Cách Mạng Giải Phóng Dân Tộc

Nguyễn Ái Quốc đã dành nhiều thời gian nghiên cứu các học thuyết cách mạng, đặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lênin, để tìm ra con đường giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện Việt Nam. Người đã viết nhiều bài báo, tác phẩm, trong đó trình bày quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc, về vai trò của giai cấp công nhân và nông dân, về sự cần thiết phải xây dựng một chính đảng cách mạng vững mạnh. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3.2. Thành Lập Tổ Chức Cách Mạng Tiền Thân Và Đào Tạo Cán Bộ

Ngoài việc xây dựng lý luận, Nguyễn Ái Quốc còn chú trọng đến việc xây dựng tổ chức cách mạng. Người đã thành lập các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, để tập hợp những thanh niên yêu nước và đào tạo họ thành những cán bộ cách mạng nòng cốt. Những cán bộ này sau đó đã trở về nước, gây dựng phong trào cách mạng và góp phần vào sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

IV. Phương Pháp Thống Nhất Tổ Chức Cộng Sản Thành Đảng CSVN

Đầu năm 1930, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam hoạt động riêng rẽ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào cách mạng. Nhận thấy tình hình đó, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng (Trung Quốc). Tại Hội nghị, Người đã phân tích tình hình, đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn và thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất.

4.1. Cương Lĩnh Chính Trị Đầu Tiên Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội cộng sản. Cương lĩnh này đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

4.2. Bước Ngoặt Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam. Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc. Đây là minh chứng cho vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

V. Đánh Giá Công Lao Sáng Tạo Trong Thành Lập Đảng CSVN

Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp sáng tạo trong quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản đến việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện tư duy sắc bén và tầm nhìn chiến lược của một nhà lãnh đạo thiên tài. Người không chỉ là người sáng lập mà còn là linh hồn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm đầu thành lập.

5.1. Từ Phê Phán Chủ Nghĩa Thực Dân Đến Lựa Chọn Con Đường

Sự nhạy bén trong việc nhận diện bản chất của chủ nghĩa thực dân và sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản là một bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Người đã dứt khoát từ bỏ các con đường cứu nước theo khuynh hướng tư sản và quyết tâm đi theo con đường của giai cấp công nhân, con đường duy nhất có thể mang lại độc lập, tự do thực sự cho dân tộc.

5.2. Chủ Động Quyết Định Trong Sáng Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc không thụ động chờ đợi mà chủ động tìm kiếm, học hỏi, nghiên cứu và vận dụng những tư tưởng tiến bộ của thời đại vào điều kiện thực tế của Việt Nam. Người cũng là người quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thể hiện vai trò lãnh đạo và trách nhiệm cao cả đối với vận mệnh của dân tộc.

VI. Bài Học Tương Lai Tư Tưởng Nguyễn Ái Quốc Trong Thời Đại Mới

Nghiên cứu về vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn mang giá trị thời đại sâu sắc. Những bài học kinh nghiệm từ quá trình đó vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tư tưởng của Người tiếp tục soi đường cho sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh thế giới đầy biến động.

6.1. Vận Dụng Sáng Tạo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Bối Cảnh Toàn Cầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là vô cùng quan trọng. Tư tưởng của Người là nền tảng vững chắc để Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa.

6.2. Tiếp Tục Nghiên Cứu Và Phát Huy Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Việc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ và phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, những hoạt động tuyên truyền sâu rộng để tư tưởng của Người thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của đất nước.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NGUYỀN ÁI QUỐC CHỦ ĐỘNG TÍM DƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM 1. Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ X IX , đầu thế kỷ XX 1. Tĩttli hình the giới Từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây dần trờ thành các nước đế quốc chủ nghĩa, càng ráo riết đua nhau tràn sang phưong Đông tìm kiếm thị trường, không chi để tiêu thụ hàng hóa, mà cả đầu tư và khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc vì mục đích siêu lợi nhuận cùa nó. Vận mệnh của nhiều dần tộc bị chù nghĩa tư bản thực dân phương Tây đe dọa.

Đen đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, phần lớn các nước châu Á, châu Phi, M ỹ Latinh đã trờ thành thuộc địa cùa chù nghĩa đế quốc, thực dân. Theo Lênin, đến năm 1914, “các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệu ngiròi (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km và dân số 437,2 triệu). Riêng diện tích các thuộc địa cùa Pháp là 10,6 triệu km với số dân 55,5 triệu (so với diện tích nước Pháp là 0,5 triệu km và dân số 39,6 triệu người)”1. Trong quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa, bọn đế quốc, thực dân đã không từ một thủ đoạn nào nhằm cướp bóc, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công, đàn áp người dân.

Nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc bị chúng chà đạp lên những giá trị văn hoá, tinh thần, bị tước đoạt quyền lợi về kinh tế và địa vị xă hội Sự tàn hgn cùa chù nghĩa đế quốc, thực dân đã làm cho mâu thuẫn dân tộc ờ các nước thuộc địa, phụ thuộc ngày càng trờ nên gay gắt. Cuộc đấu tranh cùa nhân dân các nước thuộc địa chống đế quốc, thực dân ngày càng quyết liệt. Thách thức lớn nhất cùa thời đại lúc đó là tìm ra phương sách để giải phóng dân tộc thuộc địa, phụ thuộc thoát khỏi ách thống trị của chù nghĩa đế quốc, thực dân. Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tinh cùa các dân tộc châu Á cùng với phong trào dân chù tư sản ờ Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng Dân chủ tư sản 1905 ờ Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh cùa các dân tộc phương Đông.

Những phong trào dân tộc và cải cách dân chù theo khuynh hướng tư sản trờ thành trào lưu phổ biến và nổi bật ờ nhiều nước châu Á. Lênin: Toàn tập (1980), tập 27, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 9 Hàng trăm triệu người trên thế giới đang hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do.

Trên thế giới, vào đầu thế kỷ X X , mâu thuẫn giữa các nưóc để quốc với nhau ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn đó đã dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Hậu quả cùa cuộc chiến tranh đế quốc này rất thảm khốc, tác động trực tiếp tới nhiều nước trên thế giới không chỉ riêng các nước để quốc gây chiến. Đối với các các nước thuộc địa, hậu quả cùa chiến tranh thế giới là cấu trúc kinh tế - xã hội thay đổi, nhân dân bị bóc lột, đàn áp nặng nề hơn, mâu thuẫn của các nước thuộc địa với các nước đế quốc trờ nên gay gắt hon.

Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công, mờ ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đây là cuộc cách mạng vô sản thành công đầu tiên trên thế giới. Đổi với nước Nga, đây là cuộc cách mạng vô sản, thắng lợi này đã dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà X ã hội chủ nghĩa X ôviết (1922). Còn đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc N ga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bời vì trước cách mạng “nước N ga là nhà tù của các dân tộc”.

Cách mạng tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức, đã ảnh hường lớn đến cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc. Giống nhu mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi khắp năm châu, mờ ra trước mắt nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc. Đầu năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ III) được thành lập. Tại Đại hội II cùa Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thào lẩn thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và van đề thuộc địa cùa V.

Lênin được công bố. Luận cương này đã chi ra cho các dân tộc thuộc địa phương hưóng đấu tranh giải phóng thoát khỏi ách thống trị thực dân, đế quốc, giành độc lập tự do. Thành công của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đánh dấu sự phát triển mới trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập. Có thể nói, từ cuối thế kỳ XIX đến đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biên chuyển, ảnh liưửng mạnli mẽ đén phong irào cách mạng Iiưức ta.

Tinh h ình V iệt N am V iệt Nam là nước có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, là chiếc cầu nối giữa châu Á và Thái Bình Dương, giữa Đ ông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các luồng đường, luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc; lại là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nguồn lao động dồi dào. Đen giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đang trong quá trình khủng hoảng trầm trọng và suy vong. Biểu hiện cụ thể cùa tình trạng đó là sự chia rẽ nội bộ sâu sắc, là sự bột phát mãnh liệt cùa chiến tranh nông dân trên phạm vi cả n ư ớ c,. 10 Sau một thời gian dài nhòm ngó và chuẩn bị ráo riết về mọi mặt, sáng sớn ngày 1-9-1858, chiến hạm của thực dân Pháp đã nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nằng), mờ đầu cuộc cniến tranh xâm lược Việt Nam.

Trước hàih động tráng trợn của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến cầm quyền lúc đó có trách nhiệm phải lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chen để báo vệ nền độc lập cùa dân tộc; song, do đang khùng hoảng và suy voig, không còn đủ năng lực và uy tín nên triều đình Huế không huy động đư;c sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để chống thực dân Pháp. Mặc dù vậy. nhân dân cả nước đã sôi nồi đứng đậy dưới ngọn cờ cùa các văn thân, sĩ phu yêu nước chống quân xâm lược ngay từ những ngày đầu ching xâm phạm bò' cõi thiêng liêng cùa Tồ quốc. Chính vì vậy, thực dân Phip không thể thực hiện được chiến lược đánh nhanh thang nhanh và sau hơi một phần tư thế kỷ, chúng mới chiếm được nước ta.

Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ lực, thiết lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước ta, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khíi thác thuộc địa nhàm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi. mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc,. vè m ặt kinlì tế, sự kết hợp giữa lối cướp bóc cùa chủ nghĩa đế quốc vớri các hình thức bóc lột kiểu phone kiến là thú đoạn bóc lột điển hình của chú ngiĩa thực dân đối với các thuộc địa. Mấy thập kỷ bị thực dân Pháp cai trị, Việt Nam không được phép tự do phát triển công nghiệp, công nghiệp nặng khàng có mà cóng nghiệp nhẹ cũng hết sức kém.

Thực dân Pháp chi cho nhĩng ngành nào không cạnh tranh với công nghiệp nhẹ bên Pháp mới được phíp mờ ra. Bên cạnh việc chúng hết sức ngăn trờ phát triền làm cho công ngiiệp bản xứ không thể mờ mang được, chúng còn tiến hành cướp đoạt ruóng đất cùa nông dân nước ta. Người Việt Nam nói chung bị chúng áp bú;; nhất là nguời nông dân, họ bị tước đoạt hết ruộng đất và sau đó buộc phii lao động như kẻ nô lệ. Chính họ phải sống cùng kho, trong khi bọn “đao phi” cùa họ lại sống phè phÕTì.

Thực dân Pháp đã cưóp đoạt m ộng đất của nôig dân một cách trắng trợn và bằng nhiều thủ đoạn mới. Thực dân Pháp đặt ra hàng trảm thu thué vờ lỳ va vỏ nhan đạo, irử Ihanh 'gânh nạng oàn lưng" cho các tầng lóp nhân dân lao động; thuế cứ ngày càng tăng lên và người dân, đặc biệt là nông dân cứ phải nai lưng ra mà gánh, “kêu cũng chà ai thèm ngie!”1. Lối cai trị vô liêm si của của chế độ thực dân chưa dừng lại ở đó. Dưới chiêu bài dân chù, đế quốc thực dân Pháp đã cấm vào đất An Nam chế độ đáng nguyền rùa của thòi trung cổ; “người nông dân An Nam bị hành hình vừi bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bàng cây thánh giá CŨI giáo hội sa đọa làm ô danh Chúa”2.

Những thù đoạn cùa thực dân đã làm cha nông nghệ “phát sinh ra lắm khùng hoàng, nông dân thất nghiệp nhiều”3. 1Fọ Chí Minh (2011),Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 2 Fọ Chí Minh (2011),Toàn tập, tập 2, Sđd, tr.

3 Fồ Chí Minh (2011),Toàn lập, tập 3, Sđd, tr. 11 Có thể nói, chính sách kinh tế cùa thực dân Pháp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của V iệt Nam. Chính sách ấy đã phơi bày bản chất phản động cùa thực dân Pháp. v ề chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế hà khẳc.

Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: nếu bọn thực dân Pháp rất vụng về trong việc phát triển kinh tế ở thuộc địa, thì về mặt chính trị, “họ lại là những tay lão luyện trong nghề đàn áp dã man và trong việc chế tạo ra cái lòng trung thành bắt buộc”1. Chúng thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc; đặc biệt là chính sách độc tài khủng bố của đế quốc Pháp làm cho nhân dân thuộc địa không có một mảnh đất tự do, dân chủ nào dù đơn giản nhất. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người Đông Dương nói chung, người Việt Nam nói riêng được cai trị không phải bằng pháp luật mà bằng sắc lệnh của Toàn quyền, quyết định của Thống đốc, Khâm sứ,. Thực dân Pháp duy trì, sử dụng bộ máy nhà nước phong kiến Nam triều đề đàn áp dân ta theo kiểu trung cổ, nhưng mọi quyền hành đều nằm trong tay các quan người Pháp.

Chúng đã không từ một thủ đoạn khủng bố nào (tù đày, máy chém ,.) để đàn áp những người yêu nước và các phong trào chống chù nghĩa thực dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt tài liệu "Vai Trò của Nguyễn Ái Quốc trong Sáng Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam - Nghiên Cứu Chuyên Sâu" này khám phá sâu sắc vai trò then chốt của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình hình thành Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tài liệu này giúp người đọc hiểu rõ hơn về tư tưởng, hoạt động, và những đóng góp mang tính quyết định của Người trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, thống nhất các tổ chức cộng sản, và thành lập Đảng, đặt nền móng cho con đường cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử quan trọng mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm nhìn chiến lược và khả năng lãnh đạo tài tình của Nguyễn Ái Quốc.

Để hiểu rõ hơn về quá trình xây dựng Đảng và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm: Luận án tiến sĩ lịch sử đảng cộng sản việt nam công tác xây dựng đảng của đảng bộ liên khu v từ năm 1949 đến năm 1961 (https://vn-document.net/document/nghien-cuu-cong-tac-xay-dung-dang-cua-dang-bo-lien-khu-v-1949-1961/9533687779) để khám phá công tác xây dựng Đảng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Hoặc, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng từ năm 1930 đến năm 1939 (https://vn-document.net/document/lanh-dao-cong-tac-van-dong-quan-chung-dang-cong-san-viet-nam-1930-1939) để nắm bắt vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc vận động quần chúng. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ lịch sử đảng lãnh đạo xây dựng đoàn thanh niên cộng sản hồ chí minh từ năm 1986 đến năm 2006 (https://vn-document.net/document/nghien-cuu-vai-tro-cua-dang-trong-xay-dung-doan-tncs-ho-chi-minh-1986-2006) cung cấp một cái nhìn sâu sắc về vai trò của Đảng trong việc xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.