Chương 1 NGUYỀN ÁI QUỐC CHỦ ĐỘNG TÍM DƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM 1. Bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ X IX , đầu thế kỷ XX 1. Tĩttli hình the giới Từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây dần trờ thành các nước đế quốc chủ nghĩa, càng ráo riết đua nhau tràn sang phưong Đông tìm kiếm thị trường, không chi để tiêu thụ hàng hóa, mà cả đầu tư và khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc vì mục đích siêu lợi nhuận cùa nó. Vận mệnh của nhiều dần tộc bị chù nghĩa tư bản thực dân phương Tây đe dọa.
Đen đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, phần lớn các nước châu Á, châu Phi, M ỹ Latinh đã trờ thành thuộc địa cùa chù nghĩa đế quốc, thực dân. Theo Lênin, đến năm 1914, “các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệu ngiròi (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km và dân số 437,2 triệu). Riêng diện tích các thuộc địa cùa Pháp là 10,6 triệu km với số dân 55,5 triệu (so với diện tích nước Pháp là 0,5 triệu km và dân số 39,6 triệu người)”1. Trong quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa, bọn đế quốc, thực dân đã không từ một thủ đoạn nào nhằm cướp bóc, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công, đàn áp người dân.
Nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc bị chúng chà đạp lên những giá trị văn hoá, tinh thần, bị tước đoạt quyền lợi về kinh tế và địa vị xă hội Sự tàn hgn cùa chù nghĩa đế quốc, thực dân đã làm cho mâu thuẫn dân tộc ờ các nước thuộc địa, phụ thuộc ngày càng trờ nên gay gắt. Cuộc đấu tranh cùa nhân dân các nước thuộc địa chống đế quốc, thực dân ngày càng quyết liệt. Thách thức lớn nhất cùa thời đại lúc đó là tìm ra phương sách để giải phóng dân tộc thuộc địa, phụ thuộc thoát khỏi ách thống trị của chù nghĩa đế quốc, thực dân. Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tinh cùa các dân tộc châu Á cùng với phong trào dân chù tư sản ờ Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng Dân chủ tư sản 1905 ờ Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh cùa các dân tộc phương Đông.
Những phong trào dân tộc và cải cách dân chù theo khuynh hướng tư sản trờ thành trào lưu phổ biến và nổi bật ờ nhiều nước châu Á. Lênin: Toàn tập (1980), tập 27, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 9 Hàng trăm triệu người trên thế giới đang hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do.
Trên thế giới, vào đầu thế kỷ X X , mâu thuẫn giữa các nưóc để quốc với nhau ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn đó đã dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Hậu quả cùa cuộc chiến tranh đế quốc này rất thảm khốc, tác động trực tiếp tới nhiều nước trên thế giới không chỉ riêng các nước để quốc gây chiến. Đối với các các nước thuộc địa, hậu quả cùa chiến tranh thế giới là cấu trúc kinh tế - xã hội thay đổi, nhân dân bị bóc lột, đàn áp nặng nề hơn, mâu thuẫn của các nước thuộc địa với các nước đế quốc trờ nên gay gắt hon.
Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công, mờ ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đây là cuộc cách mạng vô sản thành công đầu tiên trên thế giới. Đổi với nước Nga, đây là cuộc cách mạng vô sản, thắng lợi này đã dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà X ã hội chủ nghĩa X ôviết (1922). Còn đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc N ga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bời vì trước cách mạng “nước N ga là nhà tù của các dân tộc”.
Cách mạng tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức, đã ảnh hường lớn đến cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc. Giống nhu mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi khắp năm châu, mờ ra trước mắt nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc. Đầu năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ III) được thành lập. Tại Đại hội II cùa Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thào lẩn thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và van đề thuộc địa cùa V.
Lênin được công bố. Luận cương này đã chi ra cho các dân tộc thuộc địa phương hưóng đấu tranh giải phóng thoát khỏi ách thống trị thực dân, đế quốc, giành độc lập tự do. Thành công của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản đã đánh dấu sự phát triển mới trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lập. Có thể nói, từ cuối thế kỳ XIX đến đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biên chuyển, ảnh liưửng mạnli mẽ đén phong irào cách mạng Iiưức ta.
Tinh h ình V iệt N am V iệt Nam là nước có vị trí địa lý hết sức thuận lợi, là chiếc cầu nối giữa châu Á và Thái Bình Dương, giữa Đ ông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các luồng đường, luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc; lại là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nguồn lao động dồi dào. Đen giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đang trong quá trình khủng hoảng trầm trọng và suy vong. Biểu hiện cụ thể cùa tình trạng đó là sự chia rẽ nội bộ sâu sắc, là sự bột phát mãnh liệt cùa chiến tranh nông dân trên phạm vi cả n ư ớ c,. 10 Sau một thời gian dài nhòm ngó và chuẩn bị ráo riết về mọi mặt, sáng sớn ngày 1-9-1858, chiến hạm của thực dân Pháp đã nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nằng), mờ đầu cuộc cniến tranh xâm lược Việt Nam.
Trước hàih động tráng trợn của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến cầm quyền lúc đó có trách nhiệm phải lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chen để báo vệ nền độc lập cùa dân tộc; song, do đang khùng hoảng và suy voig, không còn đủ năng lực và uy tín nên triều đình Huế không huy động đư;c sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để chống thực dân Pháp. Mặc dù vậy. nhân dân cả nước đã sôi nồi đứng đậy dưới ngọn cờ cùa các văn thân, sĩ phu yêu nước chống quân xâm lược ngay từ những ngày đầu ching xâm phạm bò' cõi thiêng liêng cùa Tồ quốc. Chính vì vậy, thực dân Phip không thể thực hiện được chiến lược đánh nhanh thang nhanh và sau hơi một phần tư thế kỷ, chúng mới chiếm được nước ta.
Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ lực, thiết lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước ta, thực dân Pháp đã tiến hành các cuộc khíi thác thuộc địa nhàm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi. mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc,. vè m ặt kinlì tế, sự kết hợp giữa lối cướp bóc cùa chủ nghĩa đế quốc vớri các hình thức bóc lột kiểu phone kiến là thú đoạn bóc lột điển hình của chú ngiĩa thực dân đối với các thuộc địa. Mấy thập kỷ bị thực dân Pháp cai trị, Việt Nam không được phép tự do phát triển công nghiệp, công nghiệp nặng khàng có mà cóng nghiệp nhẹ cũng hết sức kém.
Thực dân Pháp chi cho nhĩng ngành nào không cạnh tranh với công nghiệp nhẹ bên Pháp mới được phíp mờ ra. Bên cạnh việc chúng hết sức ngăn trờ phát triền làm cho công ngiiệp bản xứ không thể mờ mang được, chúng còn tiến hành cướp đoạt ruóng đất cùa nông dân nước ta. Người Việt Nam nói chung bị chúng áp bú;; nhất là nguời nông dân, họ bị tước đoạt hết ruộng đất và sau đó buộc phii lao động như kẻ nô lệ. Chính họ phải sống cùng kho, trong khi bọn “đao phi” cùa họ lại sống phè phÕTì.
Thực dân Pháp đã cưóp đoạt m ộng đất của nôig dân một cách trắng trợn và bằng nhiều thủ đoạn mới. Thực dân Pháp đặt ra hàng trảm thu thué vờ lỳ va vỏ nhan đạo, irử Ihanh 'gânh nạng oàn lưng" cho các tầng lóp nhân dân lao động; thuế cứ ngày càng tăng lên và người dân, đặc biệt là nông dân cứ phải nai lưng ra mà gánh, “kêu cũng chà ai thèm ngie!”1. Lối cai trị vô liêm si của của chế độ thực dân chưa dừng lại ở đó. Dưới chiêu bài dân chù, đế quốc thực dân Pháp đã cấm vào đất An Nam chế độ đáng nguyền rùa của thòi trung cổ; “người nông dân An Nam bị hành hình vừi bằng lưỡi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bàng cây thánh giá CŨI giáo hội sa đọa làm ô danh Chúa”2.
Những thù đoạn cùa thực dân đã làm cha nông nghệ “phát sinh ra lắm khùng hoàng, nông dân thất nghiệp nhiều”3. 1Fọ Chí Minh (2011),Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 2 Fọ Chí Minh (2011),Toàn tập, tập 2, Sđd, tr.
3 Fồ Chí Minh (2011),Toàn lập, tập 3, Sđd, tr. 11 Có thể nói, chính sách kinh tế cùa thực dân Pháp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của V iệt Nam. Chính sách ấy đã phơi bày bản chất phản động cùa thực dân Pháp. v ề chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế hà khẳc.
Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: nếu bọn thực dân Pháp rất vụng về trong việc phát triển kinh tế ở thuộc địa, thì về mặt chính trị, “họ lại là những tay lão luyện trong nghề đàn áp dã man và trong việc chế tạo ra cái lòng trung thành bắt buộc”1. Chúng thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc; đặc biệt là chính sách độc tài khủng bố của đế quốc Pháp làm cho nhân dân thuộc địa không có một mảnh đất tự do, dân chủ nào dù đơn giản nhất. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người Đông Dương nói chung, người Việt Nam nói riêng được cai trị không phải bằng pháp luật mà bằng sắc lệnh của Toàn quyền, quyết định của Thống đốc, Khâm sứ,. Thực dân Pháp duy trì, sử dụng bộ máy nhà nước phong kiến Nam triều đề đàn áp dân ta theo kiểu trung cổ, nhưng mọi quyền hành đều nằm trong tay các quan người Pháp.
Chúng đã không từ một thủ đoạn khủng bố nào (tù đày, máy chém ,.) để đàn áp những người yêu nước và các phong trào chống chù nghĩa thực dân.