Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC CẤP HUYỆN ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CÙNG CẤP 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Vị trí Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị nước CHXHCNVN Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo. Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng lớn mạnh và đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc và cùng với Đảng, Nhà nƣớc hợp thành những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính trị nƣớc ta.
Các văn bản Pháp luật nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “là một bộ phận của hệ thống chính trị của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Đó là sự xác định địa vị pháp lý và chính trị của Mặt trận với tƣ cách là một thành tố cấu thành thể chế chính trị của nƣớc ta. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”.
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng ngày càng tiếp tục khẳng địh vị trí quan trọng của Mặt trận trong hệ thống chính trị. Cụ thể nhƣ Chỉ thị 17 ngày 18/4/1983 của Ban Bí thƣ (khóa V); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII; Đại hội lần thứ X. Luật MTTQ Việt Nam 2015 quy định: “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Luan van 10 Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [8, tr. Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài… Tất cả các vai trò xã hội đó của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ có thể thực hiện khi mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đại diện cho lợi ích các tầng lớp nhân dân.
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng đã hiến định: “MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cƣờng đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nƣớc, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị nước CHXHCNVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nƣớc đã đƣợc Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã ghi: “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Phản biện xã hội là sự thể hiện của sự tham gia của ngƣời dân vào quản lý đất nƣớc nhƣ Điều 28 của Hiến pháp 2013 quy định "1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; 2.
Nhà nước Luan van 11 tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Điều 28 của Hiến pháp đã đƣợc thể hiện về việc lấy ý kiến của dân trong nhiều luật nhƣ Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Luật Ngân sách, Luật Đất đai, Luật Đầu tƣ công, v. Đặc biệt, Luật Đất đai 2013 có Điều 199 quy định về quyền tham gia giám sát trực tiếp của dân đối với quản lý và sử dụng đất. Tất cả những luật có quy định về việc lấy ý kiến của dân hay quyền giám sát trực tiếp của dân đều chƣa có quy định về phƣơng thức tham gia của ngƣời dân.
Để ngƣời dân tham gia ý kiến phản biện, góp ý hay ý kiến giám sát, cần có quy định ai chịu trách nhiệm tiếp nhận ý kiến của dân và chuyển ý kiến tới nơi có trách nhiệm giải trình. Quy trình này cần đƣợc quy định cụ thể, mỗi bƣớc đƣợc quy định số ngày cho phép. Khi pháp luật đã giao cụ thể cho tổ chức chịu trách nhiệm là Mặt trận Tổ quốc với vai trò là tổ chức đại diện cho dân. Lúc đó, Mặt trận Tổ quốc phải tổ chức mạng lƣới để thu nhận ý kiến của dân và chuyển tới cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm giải trình.
Tƣơng tự nhƣ ngƣời dân, các tổ chức xã hội cũng có quyền tham gia nhƣ của từng ngƣời dân, nhƣng cũng vẫn chƣa đủ điều kiện để triển khai trên thực tế. Tất nhiên, một số tổ chức ngoài nhà nƣớc ở cấp Trung ƣơng nhƣ Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Phòng Thƣơng mại và công nghiệp Việt Nam, v. vẫn có thể gửi ý kiến tham gia trực tiếp cho các cơ quan nhà nƣớc đang triển khai công việc cần giám sát. Để thực hiện chức năng của mình, các tổ chức phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định.
Hiện nay, do chƣa có văn bản pháp luật nào quy định rõ chức năng của Mặt trận nên có những cách hiểu, cách giải thích khác nhau. Có ý kiến cho rằng, chức năng của Mặt trận đƣợc quy định tại Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luan van 12 số:75/2015/QH13 Quốc hội khóa 13, kỳ họp lần thứ 06 thông qua ngày 09/6/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Ý kiến khác cho rằng, chức năng của Mặt trận là phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thanh viên. Nghiên cứu về lịch sử hình thành và lý do tồn tại của Mặt trận, với cách hiểu khái niện chức năng nhƣ trên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có những chức năng sau: - Đại diện cho lợi ích của nhân dân, bảo vệ quyền hợp pháp, chính đáng của các thành viên.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng nhƣ các tổ chức đoàn thể nhân dân, trƣớc hết là tổ chức của nhân dân nên có chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân trƣớc các cơ quan quyền lực của Đảng và Nhà nƣớc. Đây là lý do tồn tại và là chức chủ yếu của bất cứ tổ chức chính trị - xã hội nào. - Tập hợp, xây dựng và củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nội dung chủ đạo của tƣ tƣởng của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và đã đƣợc Đảng ta khẳng định trong đƣờng lối cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc trên nên tảng liên minh giai đoạn cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dƣới sự lãnh đạo của Đảng là đƣờng lối chiến lƣợc cách mạng Việt Nam, là nguồn gốc sức mạnh động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận tập hợp, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết trên cơ sở vì lời ích chung của dân tộc và bằng cách vận động, thuyết phục, hiệp thƣơng dân chủ - thống nhất hành động. Bởi vậy tổ chức và hoạt Luan van 13 động của Mặt trận Tổ quốc là sự thống nhất từ đa dạng, không có sự đa dạng thì không có mặt trận tổ quốc nhƣng không có sự tƣơng đồng và thống nhất về lợi ích chung của Mặt trận Tổ quốc thì cũng không thành Mặt trận.
- Tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đây thực chất là chức năng dân vận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (đây cũng là chức năng chung của các tổ chức quần chúng); tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức vận động nhân dân thực hiện, đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc thông qua các tổ chức thành viên và các cuộc vận động, các phong trào cách mạng mang tính toàn dân. Đây cũng là một trong những yếu tố quy định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở của chính quyền nhân dân. - Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền của nhân dân Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân là trách nhiệm của mọi thành viên của hệ thống chính trị và xã hội. Thực hiện chức năng này không chỉ đảm bảo góp phần làm cho Đảng và Nhà nƣớc mạnh hơn.
Bởi vì Đảng là thành viên và cũng là hạt nhân lãnh đạo Mặt trận, còn Nhà nƣớc là thiết chế đảm bảo các điều kiện cho hoạt động của mọi thành viên của hệ thống chính trị. - Giám sát và phản biện xã hội Quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đƣợc khẳng định trong điều 9 Hiến pháp năm 2011 (sửa đổi và bổ sung năm 2013); Mặt trận “giám sát hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nƣớc”.