CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Những khái niệm cơ bản 1. Chính sách, giám sát, phản biện 1. Khái niệm chính sách: - Chính sách là hệ thống chương trình hành động, bằng các giải pháp để định hướng, ứng xử các tác động trong đời sống xã hội để hướng đến một đất nước công bằng, tiến bộ.
Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng cầm quyền. Khái niệm giám sát. Hiện nay, thuật ngữ giám sát được sử dụng rộng rãi trong các văn bản sau: - Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015: “Thực hiện giám sát và phản biện xã hội”; “Nhân dân giám sát hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để bảo đảm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật”; “Chương V: Hoạt động giám sát”; [20] - Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Chính quyền địa phương tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội động viên Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương”; [21] Như vậy, Giám sát là một phạm trù dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định. Khái niệm phản biện, phản biện xã hội Ngày nay, thuật ngữ phản biện và PBXH đã có nhiều tác giả, các nhà nghiên đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau: 10 luan an -Theo âm Hán Việt, phản biện được hiểu là “sự bàn luận theo hướng ngược lại”, là sự tranh luận, tranh cãi, là “việc dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó”.
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ phản biện được nêu là: “Đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị của hội đồng chấm thi” [17, tr. Phản biện là một nội dung hoạt động khoa học, là quá trình đánh giá, phân tích, lập luận, thẩm định chất lượng, nhằm chứng minh, khẳng định, bổ sung hay bác bỏ một phần hay toàn bộ công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc một nhóm người. Theo tác giả Trần Đăng Tuấn, “Phản biện có thể dẫn đến kiểm tra, rà soát, bổ khuyết và có thể cả phê phán, thậm chí bác bỏ phương án được đưa ra để trưng cầu phản biện” [23, tr. Theo quyết định 22/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phản biện là hoạt động cung cấp thông tin, tư liệu, ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với các mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra.
Các tác giả cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng” thì cho rằng: Phản biện là "nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau" [4, tr. Từ các quan niệm trên, có thể nêu khái niệm phản biện như sau: Phản biện là sự nhận xét, đánh giá hay thẩm định một vấn đề nào đó, phát hiện và loại bỏ những yếu tố sai lầm, hướng tới sự đúng đắn và hợp lý đáp ứng những yêu cầu và mục tiêu nhất định. -Còn phản biện xã hội, theo các nhà khoa học, là những ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của xã hội, nhân dân và các nhà khoa học về các chương trình, chính sách, quy hoạch ,dự án, đề án,. của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan.
Theo đó phản biện xã hội thường nhằm vào những điểm yếu, hạn chế, sai sót để đưa ra các lập luận, chứng cứ, đánh giá, bổ sung, phản bác một phần hoặc toàn bộ dự thảo phương án, chương trình, chính sách nhất định. Loại phản biện mang tính xã hội nhằm phân biệt với phản biện Nhà nước, nằm “ngoài” Nhà nước. Tác giả Trần Thái Dương cho rằng, “Phản biện xã hội theo nghĩa rộng như vậy được thể hiện ở toàn bộ cách thức mà các lực lượng xã hội phản ứng ngược trở lại (phản hồi) trước những tác động của lực lượng lãnh đạo, quản lý xã hội như dư luận xã 11 luan an hội, phê phán xã hội, giám sát xã hội, tham gia xã hội” [3, tr. Như vậy, phản biện xã hội là hoạt động rộng rãi mang tính nhân dân và tổ chức, là việc một tổ chức đưa ra những chứng lý, lý lẽ, căn cứ khoa học để làm rõ bản chất của một vấn đề, một sự kiện nào đó, là cơ sở để đưa ra một chủ trương, chính sách, quyết định hợp lý, hợp pháp.
Tác giả Hồ Bá Thâm cho rằng, “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung của Nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, pháp luật, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, môi trường, trật tự an ninh… của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan ban hành nhằm mục tiêu phát triển” [24, tr. Các tác giả sách “Một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng” cho rằng: Phản biện xã hội là phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của Nhân dân, ý thức trách nhiệm của Nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức và các cơ quan Nhà nước để đảm bảo mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phục vụ lợi ích của đại đa số Nhân dân. Nhân dân với tư cách là người chủ của Nhà nước thì phải có quyền và có trách nhiệm tham gia quá trình hoạch định, thực thi và đảm bảo cho chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thiết thực. … Trong điều kiện Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, cần có cơ chế cụ thể, rõ ràng để Nhân dân mạnh dạn bày tỏ thẳng thắn ý kiến và trực tiếp tham gia phản biện đối với các dự thảo, dự án, đề án quy hoạch và những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước.
Ngược lại Đảng, Nhà nước cũng phải sẵn sàng lắng nghe, tiếp thu những ý kiến ngược chiều để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách [4, tr. Phản biện xã hội được thể hiện và định nghĩa trong Quyết định 217-QĐ/TW [1] Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa: Phản biện xã hội là phản biện mang tính xã hội, phản ánh sự nhìn nhận, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm làm cho đường lối, chính sách ấy phù hợp và đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 12 luan an Theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị thì giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc chủ thể giám sát theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với đối tượng giám sát về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước [1].
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 định nghĩa: Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Uỷ ban MTTQVN các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật [20, tr. Không chỉ trực tiếp chủ trì giám sát, Mặt trận còn được mời tham gia các đoàn giám sát của các cơ quan, tổ chức theo luật định. Như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, khoản 1 Điều 9 ghi rõ: Uỷ ban MTTQVN, các tổ chức thành viên của Mặt trận có thể được mời tham gia hoạt động giám sát. Như vậy, có thể quan niệm: Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Uỷ ban MTTQVN trực tiếp (hoặc phối hợp với các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức khác theo luật định) theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Chủ thể, đối tượng giám sát: Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chủ thể là hệ thống tổ chức của Uỷ ban MTTQVN các cấp, bao gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường trực Uỷ ban MTTQVN: là cơ quan chủ trì, trực tiếp giám sát, hoặc là cơ quan phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị để giám sát. Các tổ chức, cá nhân thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: tham gia giám sát dưới sự chủ trì của Uỷ ban MTTQVN cùng cấp. -Tính chất của giám sát của Mặt trận là giám sát xã hội, giám sát mang tính nhân dân và sau giám sát là đề xuất, kiến nghị. Không phải là giám sát mang tính quyền lực Nhà nước hoặc giám sát trong Đảng.
-Mục đích giám sát: 13 luan an Giám sát nhằm kịp thời phát hiện những sai phạm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; qua đó đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế chính sách, pháp luật nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân; đồng thời thông qua giám sát sẽ phát hiện, phổ biến, nhân rộng những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật.