phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Giải pháp quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1 Các khái niệm có liên quan 1.1 Một số khái niệm về đói nghèo: Hội nghị bàn về đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Băng Cốc - Thái Lan, đã đưa ra khái niệm về đói, nghèo: “Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [17, tr.
Đề cập đến vấn đề này Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra khái niệm về đói, nghèo: “Là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [17, tr. Ở Việt Nam, quan niệm về đói, nghèo được hình thành dựa trên sự tham khảo các quan niệm của thế giới nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của đất nước. Trong “Đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135” Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái niệm nghèo ở Việt Nam như sau:“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [17, tr. Nghèo được tiếp cận theo hai kiểu khái niệm là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình 9 trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định. Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc rất thiếu những kết cấu hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo là chỉ những địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo, hộ nghèo cao [10, tr.
* Tiêu chí đánh giá nghèo: Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó được cấu thành từ các yếu tố mà chúng ta thường gọi là tiêu chí nghèo và luôn luôn biến đổi theo không gian và thời gian. Do đó mà ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, với trình độ và tốc độ phát triển kinh tế khác nhau thì chuẩn nghèo cũng sẽ có sự khác nhau. Trên cơ sở các phương pháp đánh giá, đo lường chuẩn nghèo chung của các tổ chức quốc tế, cùng với sự phát triển về KT-XH của đất nước, từ năm 1993 đến nay Chính phủ đã 07 lần thay đổi các chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân trên đầu người theo vùng trong những khoảng thời gian nhất định cụ thể: trong 03 giai đoạn đầu: 1993-1994, 1995 -1997 và 1998-2000 là xác định theo thu nhập bình quân đầu người/tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng); Giai đoạn 2001-2005, 2006-2010 và 2011-2015 chuẩn nghèo được tính theo thu nhập bình quân đầu người/tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng), đây là phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế, hiện nay cách thức đo lường nghèo ở Việt Nam đã được xác định theo phương pháp 10 tiếp cận đa chiều của quốc tế nhằm đo lường mức thiếu hụt về nhu cầu xã hội cơ bản theo các chiều với các tiêu chí có tính chất phổ quát.
Vậy nghèo đa chiều là gì? Khái niệm giảm nghèo đa chiều được Liên hợp quốc đề cập chính thức trong tuyên bố vào tháng 6/2008. Theo đó, nghèo được đo lường không chỉ bằng nhóm tiêu chí thu nhập mà bằng cả nhóm tiêu chí “phi thu nhập” bao gồm khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin. Cho đến nay, đã có trên 32 nước tiếp cận phương pháp nghèo đa chiều thay cho phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều. Có thể nói, phương pháp tiếp cận giảm nghèo đa chiều là sự thay đổi lớn trong quan điểm về công tác giảm nghèo.
Đối với Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016), nhiều Văn kiện, Nghị quyết, Kết luận của Trung ương đã chỉ rõ chủ trương, đường lối về giảm nghèo bền vững theo nhiều chiều cạnh khác nhau, trong đó chú trọng các yếu tố cơ bản như thu nhập và các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin, nhà ở. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong đường lối, chủ trương của Đảng từ năm 2013 tại Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020. Nghị quyết này đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông. Như vậy có thể hiểu “nghèo đa chiều là tình trạng một bộ phận dân cư không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống ở mức tối thiểu”.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc thông qua Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững, Việt Nam cam kết xóa bỏ tình trạng nghèo 11 dưới mọi hình thức, không để bất cứ ai bị bỏ lại phía sau. Để thực hiện cam kết trước cộng đồng quốc tế, trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ Việt Nam đã chủ động đổi mới phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều bằng việc ban hành và triển khai thực hiện Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, các tiêu chí đánh giá hộ nghèo không chỉ gồm có thu nhập mà còn có tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin, được tính bằng 10 chỉ số đo lường gồm: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo, hộ cận nghèo Thành phố áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 3582/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2016 về phê duyệt Chương trình Giảm nghèo bền vững của Thành phố giai đoạn 2016 – 2020, qua đó hộ nghèo được phân chia thành các nhóm khác nhau nhằm đề ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp, cụ thể: (1) Hộ nghèo chia làm 03 nhóm: - Hộ nghèo nhóm 1: là hộ dân có thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống và có điểm thiếu hụt của 05 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) từ 40 điểm trở lên.
Giải pháp là tập trung ưu tiên thực hiện các chính sách và giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho từng hộ nghèo và thành viên hộ để nâng thu nhập, vượt chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập của giai đoạn 2016 - 2020; đồng thời, thực hiện các chính sách tác động hỗ trợ về tiếp 12 cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi để cải thiện và giảm dần các chiều nghèo, thiếu hụt của hộ. - Hộ nghèo nhóm 2: là hộ dân có thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống và có điểm thiếu hụt của 05 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) dưới 40 điểm. Giải pháp là tập trung thực hiện các chính sách và giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho từng hộ nghèo và thành viên hộ để nâng thu nhập, vượt chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập như hộ nghèo nhóm 1; đồng thời, thực hiện các giải pháp hỗ trợ để tiếp tục cải thiện, giảm chiều nghèo đang còn thiếu hụt nhưng mức độ không cao (dưới 40 điểm) của các hộ này. - Hộ nghèo nhóm 3: là hộ dân có thu nhập bình quân trên 21 triệu đồng/người/năm (không nghèo thu nhập) và có điểm thiếu hụt của 05 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) từ 40 điểm trở lên.
Được chia thành 02 nhóm: hộ nghèo nhóm 3a (hộ có thu nhập bình quân trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệu đồng/người/năm) và hộ nghèo nhóm 3b (hộ có thu nhập bình quân trên 28 triệu đồng/người/năm) để đảm bảo công bằng trong thực hiện chính sách hỗ trợ so với hộ cận nghèo.