Chương 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư kuin, tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giảm nghèo bền vững đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Cư kuin, tỉnh Đắk Lắk. 7 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan về chính sách giảm nghèo bền vững 1.1 Khái niệm giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững Đói nghèo không chỉ là vấn đề riêng của những người rơi vào hoàn cảnh đói nghèo mà còn là một vấn đề xã hội lớn, cần đến sự quan tâm của toàn xã hội.
Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói. Trong tình hình thế giới đang đối mặt nghiêm trọng với thảm họa dịch bệnh COVID-19 làm cho kinh tế tụt hậu khiến cho tình trạng đói nghèo thêm trầm trọng. Đại dịch COVID-19 đã khiến mức tăng trưởng của nhiều nền kinh tế trên toàn cầu bị suy giảm mạnh chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ qua, thu nhập của hầu hết người dân trên thế giới giảm sút nhưng chịu nhiều thiệt hại hơn chính là các hộ gia đình nghèo. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế chính trị xã hội của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ đói nghèo ở các quốc gia là khác nhau.
Nghèo là một khái niệm được biết đến từ lâu, được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay một định nghĩa nào hoàn chỉnh thống nhất. Khái niệm nghèo được hiểu và thay đổi theo thời gian, từng khu vực. Một số khái niệm nghèo được biết đến như sau: Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan đưa ra khái niệm: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương”; Hội nghị thường đỉnh thế giới về phát triển xã hội (năm 1995) đưa khái niệm: “ Người nghèo là tất cả những ai 8 Luan van mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, sản phẩm coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”.7-8] Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo được hiểu là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thõa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo này được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người hay hộ không thõa mãn nhưng nhu cầu cơ bản.
Ở cấp hộ gia đình, giảm nghèo này được hiểu là nâng cao mức độ thõa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình; hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo. Giảm nghèo cũng có thể được hiểu là nâng cao thu nhập (để nâng cao mức độ thõa mãn các nhu cầu cơ bản). Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo (vượt chuẩn nghèo).
Do vậy các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo nếu chỉ đặt mục tiêu là cải thiện mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản là chưa đủ, mà cần phải xác định mục tiêu là thoát nghèo, có nghĩa là thõa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao (so với chuẩn). “Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm nghèo quốc gia 2008, Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững.
9 Luan van Giảm nghèo bền vững được hiểu là giảm nghèo gắn với phát triển bền vững, tạo được cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên hay xã hội. Việc giảm nghèo phải đảm bảo sự phát triển bền vững trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Từ đó, có thể hiểu “giảm nghèo bền vững” là quá trình giảm nghèo đảm bảo được sự cải thiện đồng thời sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường của một đất nước, một địa phương, một cộng đồng dân cư hay của một hộ gia đình.11] Giảm nghèo bền vững là kiên quyết không để tái nghèo, là phải duy trì các nguồn lực, các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo thực hiện triển khai liên tục có hướng đích, có mục tiêu để không cho đói nghèo quay trở lại chính nơi chúng ta đang tích cực thực hiện xóa đói, nơi chúng ta đang thực hiện quyết tâm giảm nghèo. Giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho sự phát triển, tạo thêm lực lượng sản xuất dồi dào và đảm bảo sự ổn định cho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn, mạnh hơn.
Theo các nhà nghiên cứu, chuyên gia về kinh tế - xã hội, lao động việc làm để giảm nghèo bền vững cần hỗ trợ phát triển kinh tế hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế mà dựa vào các nguồn lực của địa phương, dựa vào điều kiện sẵn có của cộng đồng để người nghèo, hộ nghèo, DTTS có thể dựa vào đó để tự vươn lên thoát nghèo mà không phải phụ thuộc vào những điều kiện, nguồn lực khác. Giảm nghèo bền vững ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo đã định trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Cần hướng đến việc khắc phục một cách có hiệu quả nhất những bất cập, hạn chế trong giảm nghèo để tránh tình trạng tái nghèo, cải thiện ở mức tốt nhất thu nhập và điều kiện sống của người nghèo. Từng bước giúp họ có thể tự vươn lên một cách vững vàng thông qua việc họ có các điều kiện và cơ hội khai thác các nguồn lực xã hội cơ bản để phát triển.
10 Luan van Đồng thời, hướng tới việc nắm bắt các xu hướng tác động đến chất lượng giảm nghèo để có cách thức bảo đảm tính bền vững cho thành quả giảm nghèo. Chính sách giảm nghèo: là những quyết định, quy định của nhà nước nhằm cụ thể hóa các chương trình dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là xóa đói giảm nghèo.19] Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Nhà nước có liên quan đến việc lựa chọn giải pháp, mục tiêu, công cụ chính sách để giảm nghèo bền vững. Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Theo PGS, TS Trần Đình Thiên: “ không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống.
Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”.
Khái niệm trên có nghĩa rằng, thay vì tặng “con cá”, chúng ta tặng “cần câu” và tạo ra động lực thúc đẩy để người dân chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trong chờ vào sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm, cộng đồng. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ, xây dựng các biện pháp để phòng ngừa các rủi ro không mong muốn từ các yếu tố con người, xã hội, tự nhiên mang lại. Điều này đóng vai trò cực kỳ quan trọng để giúp cho người nghèo có thể chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, tạo ra được nguồn thu nhập bổ sung… muốn vậy, người dân cần được tiếp cận và duy trì các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, pháp lý.Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực 11 Luan van hạn chế của chúng ta hiện nay. Do vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt các xu hướng và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những bất cập trên.