CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT HUY VỐN TỰ NHIÊN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG 1. Nghiên cứu về phát huy vốn tự nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội vùng Trong bối cảnh, tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, các nguồn vốn tự nhiên có nguy cơ cạn kiệt, tốc độ suy giảm đa dạng sinh học diễn ra nhanh, cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, cuộc sống và sự phát triển của nhân loại nói chung đang đối mặt với nhiều thách thức. Điều này đã khiến các nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề cần phải phát huy vốn tự nhiên để thúc đẩy phát triển KTXH. Nguồn vốn tự nhiên là một nền tảng để con người tạo ra của cải phuc vụ nhu cầu phát triển KTXH và sự thịnh vượng.
Vốn tự nhiên đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với phúc lợi của con người. Các dịch vụ hệ sinh thái (HST) như nguồn nước, lương thực, năng lượng là nguồn lực trụ cột để phát triển kinh tế. Peter Kareiva, Heather Tallis, Taylor H.Daily, Stephen Polasky (2011) cho rằng vốn tự nhiên có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người, đặc biệt là cung cấp các dịch vụ sinh thái. Trong đó, các tác giả phân tích về giá trị của từng loại vốn tự nhiên như nước, đất, rừng, khoáng sản hay đa dạng sinh học.
Báo cáo của Ủy ban Khoa học và Công nghệ cho Phát triển của Liên Hợp Quốc (2016) đã khẳng định con người hưởng được nhiều lợi ích từ tài nguyên thiên nhiên bao gồm thực phẩm, giải trí, không khí sạch và nước. Mục đích của việc định giá các tài nguyên này là để định lượng tốt hơn chi phí cho sự xuống cấp của chúng. Do đó, khôi phục, phát huy nguồn vốn tự nhiên là cách thức để phát triển bền vững. Các nghiên cứu về vấn đề này đã được các tác gỉả nước ngoài như James Aronson và cộng sự (2007); Irene Petrosillo và cộng sự (2009); Paul R.
Ehrlich và cộng sự (2012); Fang và cộng sự (2006)…đề cập. Vốn tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững; việc khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững và phát huy vốn tự nhiên là yêu cầu thiết yếu để phát triển bền vững. Francesco di Castri (1995) với nghiên cứu “Vai trò chủ đạo của phát triển bền vững” đã chỉ ra vai trò chủ đạo của phát huy vốn tự nhiên trong phát triển bền vững ở các quốc gia, trong đó nhấn mạnh vốn tự nhiên là chìa khóa quan trọng mà việc phát triển nguồn vốn tự nhiên là điều kiện thiết yếu để đảm bảo cho phát triển KTXH bền vững. Nghiên cứu của Michael V.
Russo (2002) cho rằng vốn tự nhiên có vai trò quan trọng hình thành các ngành công nghiệp môi trường, thúc đẩy 12 phát triển công nghiệp bền vững; qua đó, góp phần phát triển bền vững. Điều này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Jérôme Pelenc, Jérôme Ballet (2015), phát triển bền vững và vốn tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. James Aronson và cộng sự (2007) thì chỉ ra rằng khôi phục và quản lý hiệu quả nguồn vốn tự nhiên là các hoạt động đảm bảo phát triển bền vững khi nguồn vốn tự nhiên đang ngày càng suy thoái trầm trọng. Nghiên cứu của Robert Costanza, Herman E.
Daly (1992), Irene Petrosillo và cộng sự (2009), Fridolin Brand (2009) khẳng định việc bảo tồn, duy trì vốn tự nhiên sẽ tạo ra các dòng dịch vụ sinh thái, hàng hóa môi trường, góp phần phát triển bền vững. MacDonald, Nick Hanley, Ian Moffatt (1999) lại phân tích rằng việc thiếu các hướng dẫn rõ ràng liên quan đến các tiêu chí đánh giá, đo lường vốn tự nhiên làm cho việc so sánh, đánh giá, ứng dụng cách tiếp cận về nguồn vốn tự nhiên quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên khu vực còn hạn chế. Vì vậy, cần có các tiêu chí đánh giá, đo lường cụ hể và nhận dạng vốn tự nhiên đầy đủ theo yếu tố định lượng và định tính là yếu tố quan trọng cho phát triển bền vững. Nhóm tác giả Anne D.
Guerry và cộng sự (2015) cũng khẳng định trong một số lĩnh vực phát triển KTXH thể giải quyết bằng sự kết hợp vốn tự nhiên và các dịch vụ hệ sinh thái mà nó cung cấp; nhiều lĩnh vực sản xuất hiện nay phụ thuộc vào chất lượng các nguồn vốn và các dịch vụ sinh thái tự nhiên. Do vậy, cần nâng cao nhận thức về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa phát huy vai trò củahệ sinh thái với phát triển; cần thúc đẩy nghiên cứu khoa học liên ngành, cơ bản về dịch vụ hệ sinh thái và ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong việc đưa ra quyết định khôi phục, sử dụng bền vững vốn tự nhiên. Còn Fridolin Brand (2009) thì khẳng định việc duy trì vốn tự nhiên là một mục tiêu quan trọng của phát triển bền vững. Vốn tự nhiên là một khái niệm rộng, cần có sự tham gia của các ngành khoa học và các nhóm xã hội khác nhau trong việc định giá thiên nhiên.
Ở Việt Nam, vốn tự nhiên là tài sản thiên nhiên, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững và tăng trưởng xanh đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Phương Hạnh (2016); Kim Thị Thuý Ngọc (2014); Kim Thị Thuý Ngọc và Nguyễn Văn Tài (2015), Đặng Huy Huỳnh (2015). Sử dụng bền vững và phục hồi các nguồn vốn tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt các mục tiêu liên quan đến phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, mục tiêu về môi trường, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu (Kim Thị Thuý Ngọc và Nguyễn Văn Tài, 2015). Tác giả Đặng Huy Huỳnh (2015) đã chỉ ra phục hồi và phát huy vốn tự nhiên là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh và là điều kiện để đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế trong phát triển bền vững. Từ vai trò của vốn tự nhiên cũng như tình trạng vốn tự nhiên ở thế giới và Việt Nam đang ngày bị cạn kiệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống 13 của con người, tác giả đã đề xuất một số chính sách và giải pháp bảo tồn, phát huy vốn tự nhiên để hướng tới nền kinh tế xanh đảm bảo phát triển bền vững ở Việt Nam.
Duy trì, bảo tồn, phát triển và phát huy nguồn vốn tự nhiên cho phát triển bền vững đã được các nghiên cứu chỉ ra như Robert Costanza, Herman E. Russo (2002), James Aronson và cộng sự (2007), Irene Petrosillo và cộng sự, 2009… Robert Costanza, Herman E. Daly (1992) đã chỉ ra điều kiện tối thiểu cần thiết cho phát triển bền vững là duy trì tổng số vốn tự nhiên ở mức hoặc cao hơn mức hiện tại. Để phát triển bền vững bằng cách duy trì vốn tự nhiên thông qua đổi mới công nghệ cũng như tái tạo vốn tự nhiên và sử dụng công cụ kinh tế để kiểm soát khai thác và sử dụng vốn tự nhiên.
Thomas Prugh, Herman Daly, Robert Goodland, John H Cumberland, Richard B Norgaard (1999) khẳng định vốn tự nhiên liên quan mật thiết tới sự sống còn của nền kinh tế. Từ đó, muốn phát triển bền vững nền kinh tế thì không thể không quan tâm tới duy trì và phát huy vốn tự nhiên. Russo (2002) cho rằng sử dụng vốn tự nhiên để đảm bảo phát triển công nghiệp bền vững; việc khám phá các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo có thể duy trì và phát triển vốn tự nhiên. Việc xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn vốn tự nhiên cũng là cách phát huy nguồn vốn tự nhiên để phát triển bền vững (Irene Petrosillo và cộng sự, 2009).
Nghiên cứu đã chỉ là việc duy trì vốn tự nhiên góp phần đảm bảo an ninh môi trường; nên tăng cuồng quản lý vốn tự nhiên thông qua việc xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ có thể thực hiện đối với quản lý đất, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Đảm bảo vốn tự nhiên thông qua mở rộng quyền sở hữu đối với nguồn vốn tự nhiên là cách thức phát huy vốn tự nhiên cho phát triển vùng là kết quả nghiên cứu được chỉ ra bởi Paul R. Ehrlich và cộng sự (2012).
Việc trao quyền sở hữu về vốn tự nhiên sẽ đảm bảo cho vốn tự nhiên được khai thác và sử dụng đúng mức trong khuôn khổ cam kết. Đồng thời, việc tái tạo vốn tự nhiên cũng được thực hiện hiệu quả hơn. Hay trong nghiên cứu của Lisen Schultz và cộng sự (2015) về quản trị thích ứng và quản lý hệ sinh thái, bằng việc đánh giá sự thay đổi của vốn tự nhiên, các tác giả chỉ ra quản trị thích ứng là biện pháp quản lý phù hợp với vốn tự nhiên, trong đó cần thiết xây dựng hệ thống quản trị đa cấp để có thể quản lý bền vững vốn tự nhiên và từ đó phát huy hiệu quả vốn tự nhiên cho phát triển bền vững. Đầu tư cho vốn tự nhiên là cách để phát triển vốn tự nhiên góp phần phát triển bền vững.
Điều này đã được chỉ ra trong các nghiên cứu “Làm thế nào khuyến khích đầu tư vào vốn tự nhiên cho vùng sông Mê kông” cùa Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB); “Vốn tự nhiên: Quản lý tài nguyên cho tăng trưởng bền vững” World Bank (2012). Các nghiên cứu cho rằng giá trị vốn tự nhiên có thể suy giảm do sự suy thoái, xuống cấp của đất trồng trọt, rừng 14 ngập mặn, đất ngập nước…, gây ảnh hưởng đến việc phát triển KTXH. Do đó, cần phải có sự khuyến khích đầu tư vào vốn tự nhiên mới đảm bảo phát huy nguồn vốn tự nhiên cho phát triển bền vững KTXH. Hay trong chương về “Bảo vệ, bảo tồn và tăng cường vốn tự nhiên” trong báo cáo “Đánh giá toàn diện tình trạng, xu hướng và triển vọng của môi trường Châu Âu trong xu thế toàn cầu” của EU đã chỉ ra rằng việc bảo vệ, bảo tồn và tăng cường vốn tự nhiên là cần thiết; cần phải thực hiện để cải thiện khả năng phục hồi hệ sinh thái và tối đa hóa lợi ích mà vốn tự nhiên có thể mang lại cho nền kinh tế và xã hội; duy trì hệ sinh thái đòi hỏi có một khung chính sách chặt chẽ, chú trọng vào việc thực hiện, tích hợp và công nhận mối quan hệ giữa khả năng phục hồi của hệ sinh thái, hiệu quả sử dụng tài nguyên và sức khỏe của con người.
Việc tăng cường khả năng phục hồi của hệ sinh thái sẽ mang lại lợi ích cho sức khỏe và hạnh phúc của con người.