CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về HĐND Theo Điều 6: Luật tổ chức chính quyền địa phương định nghĩa: Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Theo Điều 87 Luật tổ chức chính quyền địa phương: Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được quy định: Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp Hội đồng nhân dân và trên cơ sở hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân quyết định nội dung giám sát theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân trình trên cơ sở các kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua các hoạt động sau đây: Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân cùng cấp về tình hình thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; Xem xét văn bản của Ủy ban nhân dân cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; Xem xét 13 trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Thành lập Đoàn giám sát về một vấn đề nhất định khi xét thấy cần thiết và xem xét kết quả giám sát của Đoàn giám sát.Đại biểu Hội đồng nhân dân Đại biểu Hội đồng nhân dân là thuật ngữ pháp lí dùng để chỉ một cá nhân công dân được bầu cử vào Hội đồng nhân dân (các cấp). Đại biểu Hội đồng nhân dân là đại diện cho nhân dân trong đơn vị hành chính - lãnh thổ mà Hội đồng là người đại diện, có các quyền hạn và trách nhiệm được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân.Các Ban của Hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân xã gồm có 02 Ban: Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội 14 đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
Nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 1.Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Đối tượng giám sát Theo Luật giám sát năm 2015, đối tượng giám sát của HĐND bao gồm: Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND. Đối tượng giám sát của HĐND rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân ở địa phương. Tuy nhiên cần lưu ý, trong luật hiện hành không phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám sát như nhau đối với mọi động của đối tượng chịu giám sát.
Đối tượng, phạm vi, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp, tính chất của mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng chịu sự giám sát. Chẳng hạn với UBND do mối quan hệ chấp hành (trực thuộc) của cơ quan này với HĐND mà phạm vi mức độ giám sát của HĐND rất lớn, bao trùm mọi hoạt động của UBND và khả năng xử lý lớn đối với quyết định, hành vi và cả nhân sự của UBND. Nội dung giám sát Để có cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện tốt chức năng giám sát, trước hết phải xác định rõ nội dung giám sát của cơ quan này. Hội đồng nhân dân quyết định nội dung giám sát theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân trình trên cơ sở các kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện Nghị quyết đó; và căn cứ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND, nội dung giám sát của HĐND bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân. Các hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 của Luật giám sát 2015. Xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp và pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
16 Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu. Các hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân. Xem xét các quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 của Luật giám sát năm 2015 trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân.
Tổ chức hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân. Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Giám sát việc giải quyết khiếu nại của cử tri. Các hoạt động giám sát của Ban của Hội đồng nhân dân.
Thẩm tra các báo cáo do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công. Giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp. Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân Các hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân. 17 Đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây: chất vấn những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 của Luật giám sát năm 2015; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.
Hình thức giám sát Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp Hội đồng nhân dân và trên cơ sở hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua các hoạt động sau đây: 1.Giám sát trong kỳ họp Tại các kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân xã, thị trấn giám sát thông qua việc: xem xét các báo cáo, tờ trình, dự thảo Nghị quyết của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân trình tại kỳ họp theo quy định của pháp luật. Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân xã, Hội đồng nhân dân xã, có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân xã; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, tại các kỳ họp HĐND Thường trực HĐND, các Ban HĐND và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên thực hiện việc giám sát các văn bản thuộc thẩm quyền của mình nhằm có những kiến nghị, đề xuất kịp thời. 18 Các bước để HĐND xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được quy định như sau: Đại diện của Thường trực HĐND xã trình văn bản quy phạm pháp luật (HĐND cấp xã có thẩm quyền ban hành Nghị quyết), UBND xã có thẩm quyền ban hành quyết định (Điều 30) có dấu hiệu trái với Hiến pháp, pháp luật lên cơ quan nhà nước cấp trên.