Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Khái quát chung về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, thành lập ngày 18-11-1930. Án nghị quyết về vấn đề phản đế tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10-1930 đã nêu sự cần thiết thành lập Mặt trận thống nhất phản đế.
Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp mọi lực lượng yêu nước làm cách mạng giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Vị trí, vai trò, chức năng 1. Vị trí Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ 9 chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động. Vai trò Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và được luật hóa tại Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013), Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của hệ thống chính trị, có vai trò đặc biệt quan trọng việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sự thống nhất cao về chính trị trong nhân dân, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân , tạo nên nền tảng chính trị vững chắc để thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải tự Mặt trận khẳng định mà do chính nhân dân và lịch sử cách mạng thừa nhận. Thắng lợi to lớn của Cách mạng tháng 8 năm 1945 gắn liền với sự nghiệp Mặt trận Việt Minh. Tiếp theo Mặt trận Việt Minh là Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt 10 Nam ra đời đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu phương lớn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở là nơi phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, truyền thống yêu nước, là nơi phát huy quyền làm chủ nhân dân, khơi dậy nguồn lực và sức mạnh toàn dân trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tham gia với chính quyền để giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Thực hiện và phát huy dân chủ ở cơ sở, tham gia giám sát và bảo vệ chính quyền, tham gia quản lý xã hội, tổ chức thực hiện các cuộc vận động và các phong trào thi đua yêu nước, góp phần cùng với Đảng và chính quyền cơ sở thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương. Quyền hạn và trách nhiệm Điều 3, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định về quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: - Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. - Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
- Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. 11 - Thực hiện giám sát và phản biện xã hội. - Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước. - Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động Điều 4, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. - Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên. - Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình. - Đảng cộng Sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Khái quát chung về hoạt động phản biện xã hội 1. Khái niệm hoạt động phản biện xã hội Phản biện xã hội là sự phản ánh chính kiến của xã hội đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật do hệ thống lãnh đạo, quản lý đề ra, thể hiện qua những nhận xét, đánh giá, phân tích có căn cứ và có sức thuyết phục, được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chủ thể phản biện; có chức năng chuyển tải nhu cầu, nguyện vọng của xã hội đến hệ thống lãnh đạo và quản lý; có tác dụng thúc đẩy nền dân chủ xã hội và củng cố thể chế xã hội. Hình thức phản biện xã hội tùy thuộc vào truyền thống văn hóa chính trị, trình độ tổ chức dân chủ của từng nơi, từng thời kỳ lịch sử. 12 Chính vì vậy, phản biện có nội hàm rộng hơn so với phản bác.
Trong quá trình phản biện có thể đi đến phản bác nhưng phản biện không chỉ là để phản bác mà phản biện còn đi đến bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh và khẳng định cái đúng, cái ưu điểm trong những vấn đề được phản biện mà tác giả của nó nhiều khi chưa nhìn thấy được. Phản biện xã hội chỉ nhằm lựa chọn được phương án tốt nhất, còn phản kháng là hoạt động nhằm đả kích, gạt bỏ phương án xã hội được đưa ra, do có sự đối lập về mục tiêu và bản chất xã hội. Phản biện xã hội và phản kháng tuy khác nhau về bản chất nhưng lại có quan hệ với nhau. Tính chất, đặc điểm hoạt động phản biện xã hội Phản biện xã hội phản ánh đầy đủ những tính chất và đặc điểm của nó để phân biệt với hoạt động phản kháng, phản bác.v… diễn ra trong thực tiễn.
Vì vậy, khi nghiên cứu phản biện trong hoạt động lập pháp cần phải nghiên cứu đến những tính chất, đặc điểm nổi bật sau: - Thứ nhất, trong xã hội có giai cấp và Nhà nước thì phản biện xã hội hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước luôn bị lợi ích các giai cấp, tập đoàn, phe nhóm chi phối nên không thể mang tính xã hội thuần túy mà bao hàm cả tính chính trị, đó chính là tính xã hội - chính trị. Việc nhận diện đặc trưng này là vấn đề rất cơ bản cho sự xác lập và vận hành của hệ thống phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước ở nước ta. Tính xã hội - chính trị quy định phản biện xã hội hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là vấn đề của quyền lực xã hội, đồng thời, luôn đan xen lợi ích của các tập đoàn, giai cấp, tầng lớp trong xã hội. - Thứ hai, phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước luôn mang tính lịch sử - cụ thể.
Bởi vì, trong những không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thì nội dung và hình thức phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định 13 những vấn đề quan trọng của đất nước sẽ rất khác nhau.