Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Khái niệm và vai trò giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam 1. Khái niệm về giám sát của MTTQ Việt Nam Giám sát là sự quan sát, theo dõi mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc Nhân dân đối với hoạt động của những đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quy trình, quy chế để nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được đảm bảo thực hiện nghiêm minh. Giám sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan Nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó.
Giám sát cũng là quyền của Nhân dân, của tổ chức xã hội xem xét đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước, của cán bộ, công chức Nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Các cơ quan, đơn vị Nhà nước, những người thực thi quyền lực Nhà nước phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân và chịu sự theo dõi, giám sát của Nhân dân; đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do cử tri bầu ra và phải chịu sự giám sát, theo dõi của cử tri. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện chức năng giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị Nhà nước, các tổ chức kinh tế; đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước.
Trong thực tế hiện nay cơ bản có ba lực lượng giám sát đó là: 9 Luan van Giám sát của Đảng là giám sát việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước là giám sát việc thực thi Hiến pháp, pháp luật của cá nhân, tổ chức, việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân; Giám sát xã hội là giám sát cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quyền dân chủ của Nhân dân. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính xã hội, tính đại diện, tính Nhân dân. Mặt trận thực hiện công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân tham gia giám sát thông qua các Hội nghị cử tri, hội viên, đoàn viên và các thành viên của Mặt trận; Mặt trận tham gia cùng cơ quan quyền lực Nhà nước giám sát hoặc Mặt trận tổ chức hoạt động giám sát độc lập theo chức năng, nhiệm vụ của mình theo luật định Giám sát của Mặt trận Tổ quốc mang tính xã hội không mang tính cưỡng chế, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một trong những hình thức thực hiện kiểm soát quyền lực Nhà nước; hoạt động này là theo dõi, quan sát, xem xét của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm định hướng, tác động đến đối tượng bị giám sát thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định; trường hợp kết quả có phát hiện những vấn đề vi phạm các quy định của pháp luật thì không có tính cưỡng chế Nhà nước mà kết quả giám sát được thể hiện bằng hình thức kiến nghị, đề xuất đến cơ quan, tổ chức Nhà nước có thẩm quyền để xem xét, xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức, các cơ quan, tổ chức Nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; việc đánh giá, kiến nghị, đề xuất kết quả sau giám sát nhằm đẩy mạnh các biện pháp tác động mang tính Nhân dân, tính xã hội vào hoạt động của các đối tượng bị giám sát; qua đó đối tượng bị giám sát tự nhìn nhận, chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình; không 10 Luan van có quyền bắt buộc, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có hành vi vi phạm phải tiến hành xử lý nội dung vụ việc vi phạm đó; vấn đề có xử lý hay không xử lý phụ thuộc vào trách nhiệm và quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giám sát theo các quy định hiện hành của pháp luật. Vậy giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khác với giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước, cụ thể là giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là hoạt động giám sát thể hiện tính mệnh lệnh, tính quyền lực, tính cưỡng chế; điều đó thể hiện như Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác do Quốc hội thành lập trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội.
Hội đồng nhân dân có thẩm quyền bãi bỏ văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Từ những nhận định, phân tích trên. Khái niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có thể hiểu như sau: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, đảng viên, người thực thi quyền lực Nhà nước trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và kiến nghị chấn chỉnh, xử lý những sai sót, khuyết điểm trong thực thi nhiệm vụ và kiến nghị bổ sung, sửa đổi các chính sách, pháp luật cho phù hợp với điều kiện thực tế; qua đó, để phát hiện, phổ biến những điển hình mới, những mặt mạnh, tiêu biểu; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần tham gia kiểm soát quyền lực của Nhà nước, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng và bộ máy Nhà nước. Vai trò giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam 11 Luan van Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập ngày 18/11/1930 với tên gọi là Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam thành lập và lãnh đạo.
Kế thừa và phát huy vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam qua các thời kỳ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là bộ phận không thể tách rời của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là lãnh đạo; đây là sự yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát thể thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận.là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân; nơi thể hiện nguyện vọng, ý chí và tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là nơi Nhân dân phát huy quyền làm chủ; nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất chương trình hành động của các thành viên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tập hợp, xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Tuy nhiên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp hoạt động của từng lĩnh vực hình thành trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay cơ bản có khác nhau về nhiệm vụ nhưng đều là công cụ để Nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ và cường thịch, có vị trí quan trọng trên trường quốc tế. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được khẳng định vị trí ngay từ trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta; qua mỗi lần bổ sung, sửa đổi Hiến pháp, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng tiếp tục được khẳng định và xác định rõ hơn. Cụ thể Hiến pháp 2013 hiện nay đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính 12 Luan van quyền Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đó là xây dựng, củng cố, tăng cường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong Nhân dân, gắn kết chặt chẽ giữa Đảng và Nhà nước với Nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của công cuộc đổi mới của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.