CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở Việt Nam 1. Khái niệm hệ thống chính trị Người ta nói đến hệ thống chính trị khi nói đến nhà nước, cho nên hệ thống chính trị mang tính giai cấp. Nhà nước và thiết chế chính trị liên kết với nhau thành một hệ thống, tác động đến đời sống chính trị - xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ, phục vụ lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động ở Việt Nam là chủ thể của quyền lực nhà nước. Do đó, hệ thống chính trị Việt Nam là công cụ thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm "Hệ thống chính trị" theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lenin, là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định.Ăngghen đã nghiên cứu khái niệm hệ thống chính trị như một chế độ chính trị với tính cách là một chỉnh thể, một hệ thống, như cơ cấu chính trị của xã hội, Chế độ chính trị của nhà nước. Phát triển tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.
Lenin đã đưa ra khái niệm hệ thống chính trị ở nước Nga Xô viết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với khái niệm "chuyên chính vô sản" (Khái niệm này vẫn được dùng ở nước ta cho đến Hiến pháp năm 1980). Hệ thống chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lenin bao gồm: Nhà nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo đối với nhà nước và các tổ chức quần chúng, trong đó tổ chức công đoàn đóng 10 luan an vai trò quan trọng. Ở phương Tây, về cơ bản có 2 cách tiếp cận đối với hệ thống chính trị. Một là, tiếp cận về thể chế: được xem hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế chính trị bao gồm các tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và những mối quan hệ của chúng.
Hai là, tiếp cận về hệ thống: được xem hệ thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa chúng, mà còn là những hành vi chính trị, vai trò chính trị, chuẩn mực chính trị. Từ hai cách tiếp cận cơ bản này phát triển nên một số quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị như: Nhà chính trị học Mỹ D.Istons, trong tác phẩm Hệ thống chính trị (1953), Giới hạn sự phân tích chính trị (1965) cho rằng: "Hệ thống chính trị giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết và phản ứng với những tác động từ bên ngoài. Hệ thống đó có đầu vào và đầu ra. Đầu vào đó là nơi tiếp nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ.
của môi trường xã hội và văn hóa xã hội quanh nó. Còn đầu ra là những quyết định chính trị và hành động chính trị để thực hiện các quyết định đó" [43, tr. Cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ G. Một số cách tiếp cận khác cho rằng: "Hệ thống chính trị là cơ chế để thực hiện và giải quyết các vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định cũng như kiểm soát các quan hệ quản lý của Nhà nước" [43, tr.
Đến đầu những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị được khẳng định trong các tài liệu triết học, chính trị học của Liên Xô. Ở nước ta, nhìn chung, cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị là mô tả các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của hệ thống chính trị. Từ quan điểm đó, có thể đưa ra định nghĩa về hệ thống chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế của chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào chính trị.) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những 11 luan an nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [55, tr. Như vậy, có thể thấy, hệ thống chính trị là một hệ thống cấu trúc, một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau, có vai trò, vị trí, chức năng khác nhau.
Hệ thống chính trị đó được thể hiện ở các cấp khác nhau: trung ương, địa phương, cơ sở. Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, tùy theo mỗi quốc gia, hệ thống chính trị có đặc thù khác nhau nhưng về cơ bản có 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội nhân dân. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống chính trị, có thể lấy một số quan điểm tiêu biểu như sau: Thứ nhất, Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó. Hệ thống này bao gồm nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị khác, trong đó nhà nước đóng vai trò là yếu tố cơ bản và trung tâm.
Thứ hai, Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Thứ ba, Hệ thống chính trị được cơ cấu, tổ chức gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và hoạt động theo pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển xã hội đó… Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - thể hiện bản chất, các đặc điểm, quy luật hình thành và phát triển của chế độ chính trị mới, của chủ nghĩa xã hội. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất của các thiết chế và quan hệ chính trị. Ở nước ta, hệ thống chính trị mới ra đời sau cách mạng tháng Tám cùng với sự hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Cùng với việc xây dựng và phát triển của chế độ xã hội mới, hệ thống chính trị của nước ta ngày càng phát triển và hiện nay là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội 12 luan an chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng một xã hội phồn vinh, dân chủ, nhân đạo, công bằng không áp bức bóc lột. Ở nước ta, hệ thống chính trị về cơ cấu, tổ chức bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức xã hội hợp pháp khác. Hệ thống chính trị nước ta có một số đặc điểm cơ bản sau: 1) Hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động rất chặt chẽ, có tính thống nhất cao trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận hợp thành hệ thống chính trị; 2) Hệ thống chính trị nước ta có mục tiêu hoạt động tương đối thống nhất có sự thống nhất về lợi ích lâu dài, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; 3) Hệ thống chính trị nước ta có tính dân chủ cao; 4) Trong xã hội ta quần chúng lao động có tính tích cực chính trị cao.
Các thiết chế của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một chính thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn đảng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ thể chân chính của quyền lực. Hệ thống chính trị bao gồm 3 yếu tố chính: • Đảng Cộng sản Việt Nam, còn được gọi là Đảng chính trị, là lực lượng chủ yếu quyết định đường lối đối nội, đối ngoại của đất nước. 13 luan an • Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận; đây là những tổ chức chính trị - xã hội để hỗ trợ và hậu thuẫn cho sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Hệ thống chính trị ở cơ sở 1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở Trong khoa học chính trị - pháp lý ở Việt Nam, cấp cơ sở là chỉ cấp xã - cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp. Hệ thống chính trị ở cơ sở - theo tinh thần Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, là hệ thống chính trị ở cấp xã (xã, phường, thị trấn). Cơ sở là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý cấp thấp nhất trong hệ thống bốn cấp hành chính hiện hành ở nước ta (xã, phường, thị trấn) Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội gần dân nhất, là nơi vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của cư dân, là đầu mối của thị trường, hình thành các quan hệ kinh tế trong mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.
Ở cấp cơ sở, vai trò của Đảng giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và tổ chức cuộc sống của nhân dân. Hiện có cách tiếp cận khác nhau về hệ thống chính trị cơ sở.