Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TRONG VIỆC PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm Hệ thống chính trị cơ sở. Trong lịch sử tư tưởng nhân loại có nhiều khái niệm định nghĩa khác nhau về chính trị đó là một lĩnh vực phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ trong đời sống xã hội.
Ta có thể hiểu chính trị là “quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước” [82, tr. Như vậy, chính trị với tư cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của xã hội có giai cấp, liên quan đến vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước. Hệ thống chính trị là một hệ thống tổ chức, một chỉnh thể bao gồm các tổ chức chính trị, xã hội phục vụ cho lợi ích của giai cấp lãnh đạo xã hội, tác động lớn chi phối mọi hoạt động trong đời sống kinh tế, xã hội. Khái niệm “Hệ thống chính trị” đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu.
Sách “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội. Cơ chế đó bảo đảm việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị trong quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác” [71, tr. Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước, theo Chương trình KX05: “Hệ thống chính trị là một chỉnh hợp bao gồm một thiết chế quyền lực với một bộ đỡ tư tưởng xác định, những chế định bảo đảm cho sự tồn tại và hoạt động của nó. Đồng thời còn bao gồm cả những ứng xử chính trị (những mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành quyền lực với khách thể tiếp nhận sự thống trị).
10 Trong Hệ thống chính trị, chính quyền Nhà nước là yếu tố có vị trí đặc biệt quan trọng. Tất cả các yếu tố khác của thiết chế quyền lực và các mối quan hệ chính trị đều hoạt động chung quanh nó” [35, tr. Viện Khoa học chính trị – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của xã hội; bao gồm các tổ chức và thể chế có tính đại diện, hoạt động hợp pháp, có chức năng hoặc mục đích tham gia vào quyền lực chính trị, nghĩa là tham gia vào việc lãnh đạo xã hội, hoạt động Nhà nước và ra các quyết định ở tầm quốc gia” [36, tr. Từ các quan điểm và nghiên cứu ta có thể hiểu “Hệ thống chính trị” là khái niệm dùng để chỉ một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội với tư cách là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp cùng với mối quan hệ giữa chúng; hoạt động xung quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước; đại diện và đảm bảo thực hiện quyền lực của giai cấp thống trị đương thời.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua ở Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã xác định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [14, tr. Khái niệm Hệ thống chính trị Việt Nam được đề cập đầu tiên trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Hiện nay Hệ thống chính trị nước ta là một chỉnh thể bao gồm các cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội thể hiện quyền lực chính trị của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân và mang bản chất giai cấp công nhân. Mà cụ thể, Hệ thống chính trị hiện nay ở Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 11 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác được công nhận hoạt động một cách hợp pháp.
Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay đặt dưới sự lãnh đạo tập trung của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức trong Hệ thống chính trị kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam; tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo nguyên tắc tập trung dân chủ; không ngừng nâng cao quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống chính trị cơ sở là Hệ thống chính trị ở đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn). Hệ thống chính trị cơ sở là mô hình thu nhỏ của Hệ thống chính trị quốc gia, bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội.
Như vậy, có thể nói “Hệ thống chính trị cơ sở” là toàn bộ các tổ chức chính trị cấp xã (bao gồm tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn) cùng với mối quan hệ tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau giữa chúng nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Quyền làm chủ của nhân dân Quyền làm chủ của nhân dân. Dân là chủ và dân làm chủ là một phạm trù rộng lớn, khi đánh giá đúng vấn đề ta sẽ thấy bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ nhân dân lao động là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và làm chủ cuộc sống của mình. Dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chủ tịch, nước lấy dân làm gốc, địa vị cao nhất là nhân dân; mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Dân là quý nhất, mạnh nhất. "Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân". "Đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân".
Trong di sản tư tưởng quý giá, Người có những điều tâm huyết: "Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra 12 những cái mới mẻ, tốt tươi, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân". Đánh giá cao vai trò của dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, dân ta từ thân phận nô lệ bước lên địa vị làm chủ là thành công chứa đựng giá trị lớn nhất của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Như vậy, "đối với dân, ta đừng có làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy".
Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Nhân dân làm chủ là mục đích và động lực của cách mạng. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì.
Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập, khi mà được ăn no, mặc đủ". Người nói: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi". Trách nhiệm của Đảng và Chính phủ với tư cách đầy tớ của nhân dân là: "Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân". Quan điểm cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "có dân là có tất cả, mất dân là mất hết". "Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ việc gì làm cũng không xong".
"Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". "Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra". "Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại".
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng dân tâm, dân tình, dân ý, hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân. 13 Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề mở rộng và nâng cao không ngừng quyền làm chủ của nhân dân. Người nói: “trong xã hội cũ, giai cấp bóc lột nắm quyền làm chủ, nên chúng nghĩ tương lai là ở trong tay chúng. Còn nhân dân lao động thì sống ngày nào biết ngày ấy” [42, tr.
Lúc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân ra đời, nhân dân được làm chủ tương lai mình, đem toàn bộ sức mình cống hiến cho sự nghiệp chung của giai cấp, của Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [40, tr.434] và “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ” [41, tr. Dân là chủ và dân làm chủ chính là sự thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.