Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ NHỮNG YEU TO TÁC DONG DEN CHINH SACH AN SINH XA HOI 1. Khái niệm về an sinh xã hội, chính sách an sinh xã hội và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Khái niém An sinh xã hội An sinh xã hội (Social Security) là khái niệm được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ cuối thé ky XIX và hiện nay đã phát trién rộng khắp trên toàn thế giới. Ở Việt Nam thuật ngữ ASXH được biết đến khoảng những năm 70 của thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn và đặc biệt từ những năm 1995 ASXH được sử dụng rộng rãi hơn.
Trong đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khải quát là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người đời sống sung mãn và hữu ích dé phát triển tai năng đến tột độ. Theo tô chức Lao động quốc tế (ILO) quan niệm: “Là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quan về kinh tế và xã hội dẫn đến sự cham dứt hay giảm sút đáng kê về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mat việc làm, mat sức lao động, tuổi già hoặc cái chết; những dịch vụ về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống” [8, tr. Quan niệm này nhắn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. 12 Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): ASXH là một hệ thống chính sách công (CSC) nhằm giảm nhẹ tác động bat lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân.
Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động bat lợi đến các cá nhân và hộ gia đình [8, tr. Trong Chiến lược An sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 khái niệm về ASXH được quan niệm như sau: “ASXH là hệ thống các chính sách và các chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiêu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyên đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc mắt thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” [4, tr. Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ XII của Đảng, ASXH được quan niệm: là một hệ thống chính sách và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chat và tinh than cho nhân dân [29, tr. Như vậy, về mặt ban chất có thê hiểu ASXH là góp phan đảm bảo thu nhập và đời sống của các công dân trong xã hội.
Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự an sinh cho mọi thành viên trong xã hội va vi vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sac. Khái niệm Chính sách an sinh xã hội Chính sách xã hội (CSXH) là một loại hình chính sách được thé chế hóa bằng pháp luật nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến 13 đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công băng xã hội, nhằm gop phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Các CSXH cơ bản gồm chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; chính sách đối với các giới, chính sách ASXH.
Nghị quyết Hội nghị lan thứ 5 BCHTW Đảng khóa XI khang định: CSXH có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực dé phat trién nhanh và bền vững trong moi giai đoạn phát triển. CSXH phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn luc trong từng thời kỳ [21, tr. Trong cuốn An sinh xã hội ở nước ta ở Việt Nam hướng tới năm 2020, tác giả Vũ Văn Phúc [31] đã quan niệm: CSASXH là một CSXH cơ bản của Nhà nước, trong đó mục tiêu là thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội [31, tr. Qua những quan điểm nêu trên có thé hiểu “Chính sách an sinh xã hội” là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mat khả năng lao động, mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa.
CSASXH là hệ thống chính sách nhăm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động BHXH, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội. Trong đó: - Mục tiêu của CSASXH là đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho mọi thành viên trong xã hội. 14 - _ Đối tượng của CSASXH là mọi người dân, kể cả những người trong đối tượng lao động, người chưa đến tuổi lao động và người hết tuổi lao động. Khái niệm Thực hiện chính sách an sinh xã hội Thực hiện chính sách an sinh xã hội là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hệ thống ASXH thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nha nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhăm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra.
Đó là quá trình triển khai hệ thống CSASXH (trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, BHXH, BHYT, giải quyết việc làm.) vào thực tiễn băng các công cụ, bộ máy của nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra [27, tr. Trong đó chủ thể thực hiện CSASXH là hệ thống chính trị, đối tượng thụ hưởng chính sách là cộng đồng người đang sinh sống trên địa bàn thực hiện chính sách Việc thực hiện CSASXH như thế nào phụ thuộc vào các bộ phận (cơ quan nhà nước hoạch định CSASXH, cơ quan chấp hành thực hiện CSASXH, cộng đồng xã hội tham gia hoạt động ASXH, đối tượng thụ hưởng CSASXH) và các bước cơ bản trong việc thực hiện CSASXH. Trên thực tế các bộ phận nói trên nhiều khi không tách biệt độc lập một cách tuyệt đối mà có sự đan xen, lồng ghép với nhau (như người hoạch định CSASXH cũng là đối tượng thụ hưởng chính sách.) Việc thực hiện các bước trong thực hiện CSASXH phải được xem xét ở cấp độ chủ thê thực hiện: CSASXH được cấp trung ương hoạch định (chính sách quốc gia) thì cấp thực thi CSASXH đó là chính quyền địa phương các cấp. Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thé chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tô thức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách 15 nói trên.
Vì vậy, trong tính tương đối, vừa có thé coi việc thực hiện CSASXH của một huyện chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) và vừa có thé coi việc thực hiện đó hàm nghĩa cả chu trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả). Vai trò, đặc trưng, cấu trúc của an sinh xã hội, chính sách an sinh xã hội và thực hiện chính sách an sinh xã hội 1. Vai trò, cấu trúc của An sinh xã hội Có nhiều cách tiếp cận dé phân tích cấu trúc của ASXH. Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu dé đưa ra những cấu trúc phù hợp.
Trong luận văn, tác giả sử dụng cấu trúc theo quan điểm phổ biến hiện nay của các tổ chức quốc tế và ở Việt Nam. Cấu trúc này được trình bày trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [31, tr. Theo đó, một hệ thống ASXH phải có tối thiểu 3 hợp phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính sau đây: - _ Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro. Day là tầng trên cùng của hệ thống ASXH.
Những chính sách này có chức năng là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư, giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập và có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro. Những chính sách, chương trình về thị trường lao động như: đào tạo nghé, hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đảo tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động là trụ cột cơ bản của tầng đầu tiên. - Thứ hai, những chính sách, chương trình giảm thiểu rủi ro. Đây là tầng thứ hai, gồm các chính sách, chương trình giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống ASXH, có vai trò rất quan trọng.
Nội dung trọng tâm nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên 16 nguyên tắc đóng - hưởng như: BHXH, BHYT, BHTN,. Nhóm chính sách này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đây sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho Nhà nước và tăng độ bao phủ hệ thống. Tuy nhiên nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bi lạm dụng. - Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro.
Bao gồm các chiến lược về cứu trợ và trợ giúp xã hội.