Tổng quan luận án
Luận án nghiên cứu sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, được thực hiện theo hướng tiếp cận văn hóa học kết hợp liên ngành Sân khấu học – Văn hóa học. Đây là công trình định tính, sử dụng phân tích tư liệu thứ cấp, điều tra xã hội học, tham dự thực địa và phỏng vấn sâu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xác định TP.HCM là địa phương có sân khấu kịch nói phát triển mạnh nhất cả nước, cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ khi chủ trương xã hội hóa được thực hiện theo Nghị quyết số 90-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ, sân khấu kịch nói thành phố có nhiều chuyển biến lớn lao. Tuy nhiên, cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đặt sân khấu kịch nói vào bối cảnh đời sống văn hóa của TP.HCM theo hướng văn hóa học một cách có hệ thống. Các nghiên cứu trước chủ yếu tiếp cận từ góc độ lý luận – phê bình sân khấu hoặc quản lý văn hóa, trong khi góc nhìn văn hóa học gắn với cấu trúc đời sống văn hóa đô thị vẫn còn bỏ ngỏ.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án hướng đến ba nội dung chính:
- Thứ nhất: Tìm hiểu đặc điểm của sân khấu kịch nói với tư cách một hoạt động nghệ thuật trong đời sống văn hóa TP.HCM.
- Thứ hai: Tìm hiểu ảnh hưởng của sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM và chiều tác động ngược lại.
- Cuối cùng: Đề xuất một số phương hướng phát triển của sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Đời sống văn hóa TP.HCM có ảnh hưởng như thế nào đối với sân khấu kịch nói TP.HCM?
- Sân khấu kịch nói có vai trò/chức năng như thế nào trong đời sống văn hóa TP.HCM?
- Những giải pháp nào cho hướng phát triển của sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM?
Tương ứng, ba giả thuyết nghiên cứu được đặt ra:
- Giả thuyết 1: Đời sống văn hóa TP.HCM góp phần tạo nên những đặc điểm riêng của sân khấu kịch nói thành phố, cả về tổ chức hoạt động lẫn sản phẩm nghệ thuật.
- Giả thuyết 2: Sân khấu kịch nói có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa TP.HCM qua việc đáp ứng nhu cầu công chúng, phản ánh và góp phần tạo hình văn hóa đô thị.
- Giả thuyết 3: Để duy trì và phát triển sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM, cần tích hợp sức mạnh thể chế cũng như nguồn lực các bên liên quan, bao gồm các cấp chính quyền, các đơn vị biểu diễn và công chúng nghệ thuật.
Đối tượng và phạm vi
- Đối tượng: Sân khấu kịch nói trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố của đời sống văn hóa TP.HCM.
- Phạm vi không gian: TP.HCM, chủ yếu giới hạn ở các quận nội thành — nơi tập trung các đơn vị và địa điểm biểu diễn, cùng lực lượng sáng tạo và thưởng thức chính.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010–2020, khi sân khấu kịch nói cũng như đời sống văn hóa TP.HCM có những chuyển biến quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước
Tác giả điểm lại tư liệu theo bốn nhóm chính:
Nhóm 1 – Nghiên cứu về sân khấu kịch nói Việt Nam:
Vấn đề kịch được đề cập sớm nhất trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (1942), trong đó tác giả xác định các đặc trưng thể loại và điểm tên các kịch gia tiêu biểu như Vũ Đình Long (Chén thuốc độc), Vi Huyền Đắc (Kim tiền, 1932; Ông ki cóp, 1938) và Đoàn Phú Tứ. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) xem kịch nói là "lối kịch viết bằng văn xuôi", đồng nhất với các thể loại sân khấu cổ truyền. Phạm Thế Ngũ (1961, 1963, 1965) trong Việt Nam văn sử học giản ước tân biên đưa ra khái niệm "thoại kịch" và phác thảo tiến trình kịch. Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) với Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách mạng tháng Tám tái hiện đời sống kịch trường từ giai đoạn sơ khai đến năm 1945 theo ba tiêu chí: tình hình sáng tác, hoạt động biểu diễn và thái độ công chúng. Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (1988) trong Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900–1930 phân tích ưu thế của kịch so với sân khấu cổ truyền. Phan Trọng Thưởng (1996) trong Những vấn đề lịch sử văn học kịch Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XX) cắt nghĩa đặc trưng kịch qua mối quan hệ giao lưu Đông – Tây, nông thôn – thành thị. Tất Thắng (2003) trong "Một thế kỷ đổi mới của Kịch Việt Nam" chỉ ra bốn yếu tố hội tụ tạo nên sự xuất hiện của kịch nói tại Việt Nam. Đình Quang (2005) trong Về sân khấu Việt Nam và Sân khấu cần giải đáp những vấn đề cốt lõi của cuộc sống khái quát tiến trình phát triển và chỉ ra nguy cơ tụt hậu do thiếu phát hiện xung đột mới. Phùng Huy Bính (2005) trong Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam tập trung vào phần tạo hình không gian sân khấu. Trần Trí Trắc (2009) trong Đại cương nghệ thuật sân khấu đề cập đặc trưng các thể tài bi kịch, hài kịch, chính kịch. Sokolov Anatoly (2010) khẳng định kịch nói ra đời từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây của các văn nghệ sĩ Việt Nam. Trần Thị Thư (2020) trong luận án tiến sĩ Kịch Việt Nam (1945–1985) về đề tài lịch sử – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại phân tích các khuynh hướng ứng xử với chất liệu lịch sử.
Nhóm 2 – Nghiên cứu về sân khấu kịch nói TP.HCM:
Lê Chí Trung (1990) tổng kết 15 năm tồn tại của sân khấu kịch nói thành phố (1975–1990). Trần Trọng Đăng Đàn (1992) đặt ra vấn đề kinh tế trong văn hóa văn nghệ qua trường hợp vở Tình nghệ sỹ, và (2000) phân tích thị hiếu thẩm mỹ của các lớp công chúng. Nguyễn Thị Minh Thái (2007) trong "Xã hội hóa sân khấu là một tiến trình văn hóa tất yếu" nêu ra sân khấu 5B Võ Văn Tần như ví dụ điển hình của quá trình xã hội hóa. Nguyễn Văn Thành (2008) trình bày quá trình hình thành và phát triển sân khấu kịch thành phố từ 1975 đến 2000; (2015) cho biết tính đến năm 2013, TP.HCM có 9 đoàn kịch nói, trong đó 8 hoạt động theo mô hình xã hội hóa. Trần Yến Chi trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sân khấu kịch TP.HCM – bản sắc và xu thế phát triển phân tích tác động của xã hội hóa và hạn chế về quản lý chất lượng vở diễn. Lưu Trung Thủy (2017) trong luận án tiến sĩ Kịch bản văn học trong sự phát triển của sân khấu kịch nói đương đại ở Thành phố Hồ Chí Minh phân tích kịch bản từ phương diện nội dung và nghệ thuật.
Nhóm 3 – Nghiên cứu về đời sống văn hóa TP.HCM:
Cao Tự Thanh và Hoàng Hương (2011) trong Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở TP.HCM thời gian 1986–2006 cung cấp cái nhìn toàn diện về đời sống văn hóa thành phố trước và sau đổi mới. Hoàng Chí Mỹ trong luận án Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở TP.HCM trong giai đoạn hiện nay khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp. Đặng Quang Thành trong luận án tiến sĩ triết học về Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên TP.HCM phân tích các yếu tố tác động đến lối sống thanh niên. Trương Minh Dục và Lê Văn Định (2010) trong Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam – một cách tiếp cận đề cập đời sống văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa với lối sống đô thị, trong đó có TP.HCM. Nguyễn Hữu Nguyên (2015) đặt ra vấn đề về những mảng màu tương phản trong đời sống văn hóa đô thị TP.HCM.
Nhóm 4 – Nghiên cứu về sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM:
Huỳnh Công Duẩn (2018) trong "Kịch nói TP.HCM trong bối cảnh toàn cầu hóa" trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật nhận định kịch nói đem lại giá trị văn hóa tinh thần cho cộng đồng và lý giải sự chấp nhận của công chúng qua các yếu tố địa lý và lịch sử đặc thù. Hoàng Duẩn (2019) trong "Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với việc dàn dựng và tổ chức biểu diễn kịch nói tại TP.HCM" nêu hiện tượng khán giả Sài Gòn bắt đầu thích xem kịch hơn. Lưu Trung Thủy (2015) trong "Kịch nói trong đời sống văn học – nghệ thuật TP.HCM" chỉ ra bản chất của xã hội hóa sân khấu và mối tương tác giữa kịch nói với cải lương.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua tổng quan, tác giả xác định: cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010–2020 theo hướng văn hóa học một cách có hệ thống, cả về lịch đại lẫn đồng đại. Các bài viết và sách đa phần chỉ đề cập đến một phương diện riêng lẻ của kịch thành phố. Việc đặt sân khấu kịch nói trong bối cảnh đời sống văn hóa đô thị và xem xét mối quan hệ tương tác hai chiều giữa chúng vẫn là vấn đề bỏ ngỏ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án vận dụng bốn hệ thống lý thuyết và khái niệm:
1. Chức năng luận (Functionalism) và phân tích thiết chế: Gắn với tên tuổi của Malinowski (khởi xướng từ G. Durkheim). Luận án áp dụng khung phân tích thiết chế của Malinowski gồm sáu thành tố: (1) những người tham gia hoạt động; (2) quan hệ giữa những người tham gia; (3) những quy tắc, chuẩn mực phải tuân theo; (4) nội dung của hoạt động; (5) công cụ hay chất liệu được sử dụng; (6) chức năng được thực hiện. Sân khấu kịch nói được xem như một thiết chế mà mỗi yếu tố cấu thành đảm nhận một chức năng cụ thể trong chỉnh thể.
2. Thuyết lựa chọn duy lý và hành động tự nguyện: Thuyết lựa chọn duy lý được vận dụng để xem xét quyết định của người xem khi lựa chọn đến các sân khấu kịch dựa trên cân nhắc chi phí – lợi ích. Nhà xã hội học Georg Simmel với nguyên tắc "cùng có lợi" trong tương tác xã hội được dẫn dụng để phân tích mối quan hệ giữa sân khấu kịch và khán giả. Lý thuyết hành động tự nguyện của Talcott Parsons được vận dụng để xem xét cách thức các bên liên quan (chính quyền, đơn vị biểu diễn, công chúng) lựa chọn hình thức hoạt động trong bối cảnh các điều kiện tình huống khác nhau.
3. Lý thuyết vùng văn hóa (Culture area) và văn hóa vùng: Lý thuyết vùng văn hóa xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX; lần đầu được O. Mason trình bày năm 1894 trên tạp chí American Anthropologist. Những năm 1950, giới dân tộc học Liên Xô cũ đại diện là N. Lêvin xây dựng lý thuyết loại hình kinh tế – văn hóa. F. Boas (1858–1942) khẳng định văn hóa mỗi dân tộc hình thành gắn với môi trường xã hội và điều kiện địa lý cụ thể. Ngô Đức Thịnh (2019) được dẫn để định nghĩa "văn hóa vùng" là dạng thức văn hóa hình thành trong không gian địa lý xác định do cùng điều kiện tự nhiên, phát triển xã hội tương đồng và giao lưu văn hóa lâu dài. Lý thuyết này giúp lý giải những đặc trưng riêng của kịch nói TP.HCM so với kịch nói Hà Nội và các vùng khác.
4. Lý thuyết biến đổi văn hóa (Cultural change): Dựa trên định nghĩa của Robert H. Winthrop (1991) trong Từ điển Các khái niệm nhân học văn hóa: "Biến đổi văn hóa bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa." Lý thuyết này được dùng để lý giải những thay đổi trong sân khấu kịch nói TP.HCM dưới tác động của quá trình đổi mới kinh tế – xã hội từ 1986 đến nay.
Các khái niệm công cụ được làm rõ trong luận án gồm: "sân khấu", "thể tài kịch nói", "đời sống văn hóa" và "cấu trúc đời sống văn hóa". Khái niệm đời sống văn hóa được tiếp cận qua nhiều quan điểm: Hoàng Vinh (1999), Nguyễn Phương Lan (2004), Đinh Thị Vân Chi, Trần Đức Ngôn (2017) và tài liệu của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch (2018). Luận án giới hạn cấu trúc đời sống văn hóa ở các yếu tố: môi trường văn hóa, nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa, thiết chế văn hóa và chủ thể văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng hướng tiếp cận văn hóa học kết hợp liên ngành Sân khấu học – Văn hóa học, cùng các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp hệ thống: Xem kịch nói TP.HCM như một bộ phận trong tổng thể kịch nói Việt Nam, đồng thời như một thành tố văn hóa trong hệ thống các loại hình nghệ thuật.
- Phương pháp so sánh: So sánh các sân khấu kịch trong thành phố với nhau và so sánh sân khấu kịch TP.HCM với Hà Nội để xác định nét riêng đặc trưng.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Xử lý tư liệu và luận giải các luận điểm.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát qua phiếu điều tra xã hội học làm cứ liệu thực tiễn.
- Phương pháp định tính: Tham dự các buổi biểu diễn tại các sân khấu; phỏng vấn sâu nghệ sĩ, nhà quản lý sân khấu và khán giả.
Nguồn tư liệu
- Tư liệu liên ngành: văn hóa, lịch sử, chính trị, xã hội, tâm lý.
- Tư liệu thực tế hoạt động sân khấu: website của các đơn vị biểu diễn, tạp chí và bài báo phê bình sân khấu.
- Tư liệu từ tham dự thực địa và phỏng vấn nghệ sĩ, khán giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn (42 trang)
Chương này triển khai theo ba trục chính.
Trục tổng quan: Tác giả điểm lại các công trình theo bốn nhóm đề tài (đã trình bày ở phần tổng quan tài liệu). Luận điểm kết luận là chưa có công trình nào đặt sân khấu kịch nói trong quan hệ tương tác với đời sống văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010–2020 theo hướng văn hóa học.
Trục lý luận: Bên cạnh bốn hệ thống lý thuyết và các khái niệm công cụ đã nêu, chương làm rõ cấu trúc đời sống văn hóa theo hai mô hình: mô hình của Trần Đức Ngôn (2017) phân biệt cấu trúc bề mặt (hoạt động tiếp nhận – hưởng thụ; thực hành – truyền bá; sáng tạo) và cấu trúc bề sâu (giá trị nhận thức, tư tưởng, bề mặt); mô hình của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch (2018) gồm bốn thành tố: chủ thể hoạt động văn hóa; hệ thống giá trị văn hóa; thiết chế và cảnh quan văn hóa; các hoạt động văn hóa.
Trục thực tiễn: Tác giả đặt sân khấu kịch nói vào hệ tọa độ văn hóa Sài Gòn – TP.HCM gồm ba yếu tố: không gian văn hóa (Nam Bộ, ngã ba đường giao thương quốc tế, đa dạng cư dân với 52 dân tộc thiểu số, 468.147 người, chiếm 5,2% dân số theo số liệu Ban Dân tộc TP.HCM), chủ thể văn hóa (đa sắc tộc, cởi mở, năng động) và thời gian văn hóa (hơn 300 năm hình thành, chịu ảnh hưởng phương Tây sớm từ thời Pháp thuộc năm 1859). Tiếp đó, chương khảo sát lịch sử hình thành và phát triển sân khấu kịch nói Sài Gòn – TP.HCM qua ba giai đoạn: trước 1975 (từ vở kịch nói đầu tiên bằng chữ quốc ngữ Tuồng cha Minh, 1881; Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ thành lập 1960; Ban kịch Dân Nam ra đời 1953 với các nghệ sĩ Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng); giai đoạn 1975–1986 (Đoàn Kịch nói Nam Bộ cập bến ngày 22/5/1975, đổi tên thành Đoàn Kịch Cửu Long giang năm 1976, chuyển thành Nhà hát Kịch Thành phố năm 1997; Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm thành lập ngày 1/8/1984); giai đoạn từ 1986 trở về sau (xã hội hóa tạo ra loạt sân khấu tư nhân như Idecaf, Hồng Vân, Hoàng Thái Thanh, Thế giới Trẻ; giai đoạn 2000–2010 là thời kỳ thịnh vượng; từ 2015 bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng mới).
Chương 2: Sự tương tác giữa sân khấu kịch nói với đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (46 trang)
Chương này phân tích chiều tương tác từ đời sống văn hóa đến sân khấu kịch nói và chiều ngược lại.
Đặc điểm môi trường văn hóa: Theo kết quả Tổng điều tra dân số 2019, TP.HCM có gần 10 triệu người, mật độ trung bình 4.292 người/km², tỉ lệ dân thành thị gần 80%, tốc độ tăng dân số nông thôn bình quân 4,47%/năm so với thành thị 1,7%/năm. Theo Báo cáo điều tra lao động việc làm 2021 của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân lao động cả nước đạt 6,3 triệu đồng/tháng, trong đó lao động TP.HCM đạt 8,9 triệu đồng/tháng (Hà Nội: 8,7 triệu đồng/tháng). Mức thu nhập và trình độ dân trí cao tạo điều kiện cho nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật, trong đó có sân khấu kịch.
| Khu vực |
Dân thành thị |
Dân nông thôn |
| Cả nước |
(số liệu trong văn bản bị rút gọn) |
— |
| TP. Hồ Chí Minh |
gần 80% |
còn lại |
| Hà Nội |
(dẫn so sánh trong văn bản) |
— |
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2019
Chương phân tích các đặc điểm môi trường văn hóa TP.HCM tác động đến sân khấu kịch: tính đô thị cao; sự hội tụ đa dạng văn hóa vùng miền; mức thu nhập và trình độ dân trí thuận lợi; đặc tính cởi mở, dễ tiếp nhận cái mới của cư dân Nam Bộ; sự phân hóa thị hiếu giữa các tầng lớp công chúng. Chương cũng xem xét nhu cầu văn hóa của người dân thành phố đối với kịch nói; các hoạt động văn hóa bao gồm sáng tạo, biểu diễn và thưởng thức; sản phẩm văn hóa thể hiện qua đề tài và hình thức của các vở kịch; thiết chế văn hóa gồm thiết chế quản lý (chủ trương, chính sách) và thiết chế hoạt động (cơ sở vật chất); chủ thể văn hóa là tác giả kịch bản, đạo diễn và diễn viên.
Chương 3: Vấn đề phát triển sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (32 trang)
Chương này tập trung vào thực trạng và phương hướng phát triển. Trên cơ sở phân tích ở chương 2, chương 3 đánh giá những vấn đề đang đặt ra: sự tụt giảm chất lượng vở diễn từ sau 2015; tình trạng quản lý lỏng lẻo trong khâu xét duyệt khiến các vở kịch yếu kém về nội dung lẫn hình thức ra đời; hiện tượng diễn viên lơ là đầu tư nghề nghiệp; cạnh tranh ngày càng gay gắt với các hình thức giải trí khác. Song song đó, chương ghi nhận những hình thức sáng tạo mới xuất hiện trong giai đoạn nghiên cứu: kịch cà phê (với các nhóm tiêu biểu như nhóm Đời, nhóm Tía Lia) và kịch ma, kịch kinh dị (thu hút mạnh công chúng trẻ tại các sân khấu Hồng Vân, Thế giới Trẻ, Kịch Sài Gòn với tình trạng cháy vé). Chương đề xuất các giải pháp phát triển gắn với ba bên liên quan: chính quyền, đơn vị biểu diễn và công chúng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
- Vận dụng lý thuyết chức năng luận (Malinowski), thuyết lựa chọn duy lý (Simmel), lý thuyết hành động tự nguyện (Parsons), lý thuyết vùng văn hóa và lý thuyết biến đổi văn hóa vào việc nghiên cứu một loại hình nghệ thuật sân khấu đương đại trong bối cảnh đô thị Việt Nam.
- Cung cấp cách tiếp cận sân khấu kịch nói từ góc độ văn hóa học — phương diện mà, theo tác giả, chưa có nhiều công trình đề cập — cho phép lý giải các vấn đề của kịch nói thành phố theo hướng quan tâm đến sự tác động của các yếu tố văn hóa đến nghệ thuật.
- Hệ thống hóa nghiên cứu đặc điểm và vai trò của sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM cả về lịch đại lẫn đồng đại.
Đóng góp về thực tiễn
- Cung cấp nguồn tư liệu nghiên cứu và giảng dạy về sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM nói riêng và hoạt động nghệ thuật trong văn hóa đô thị hiện đại ở Việt Nam nói chung.
- Đề xuất phương hướng phát triển sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM, tích hợp sức mạnh từ ba bên: các cấp chính quyền, đơn vị biểu diễn và công chúng nghệ thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án không nêu trực tiếp phần "hạn chế" thành một mục riêng. Tuy nhiên, từ phạm vi nghiên cứu đã xác định, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại: phạm vi không gian chủ yếu giới hạn ở các quận nội thành TP.HCM, không bao quát các vùng ven và ngoại thành; phạm vi thời gian dừng ở năm 2020, chưa phản ánh các biến động của sân khấu kịch nói trong giai đoạn sau đó. Bên cạnh đó, phương pháp điều tra xã hội học qua phiếu và phỏng vấn sâu có thể có những giới hạn về tính đại diện của mẫu khảo sát, dù văn bản không nêu rõ quy mô mẫu cụ thể.
Giá trị tham khảo
Luận án có thể hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên ngành văn hóa học, nghệ thuật học, sân khấu học, quản lý văn hóa — đặc biệt phần cơ sở lý thuyết (chương 1) với bốn hệ thống lý thuyết được vận dụng và cách xây dựng khung phân tích thiết chế cho một loại hình nghệ thuật.
- Nhà nghiên cứu văn hóa đô thị quan tâm đến mối quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật đương đại với môi trường văn hóa đô thị lớn tại Việt Nam; phần phân tích tọa độ văn hóa Sài Gòn – TP.HCM (không gian – chủ thể – thời gian văn hóa) có giá trị tham chiếu cho các nghiên cứu tương tự.
- Người làm chính sách và quản lý văn hóa ở cấp thành phố và cơ sở — phần đánh giá thực trạng thiết chế quản lý, tác động của xã hội hóa và các phương hướng phát triển đề xuất ở chương 3.
- Giới nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam — phần lịch sử phát triển sân khấu kịch nói Sài Gòn – TP.HCM từ vở kịch nói đầu tiên (1881) đến 2020 được khảo sát có hệ thống trong chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao sân khấu kịch nói TP.HCM phát triển mạnh hơn Hà Nội sau chủ trương xã hội hóa năm 1997?
Theo phân tích của luận án, trong thời gian đầu khi các sân khấu kịch ở Hà Nội còn dè dặt với sự thay đổi, sân khấu kịch nói TP.HCM đã vào cuộc mạnh mẽ và đạt nhiều thành công. Điều này được lý giải qua đặc tính văn hóa vùng Nam Bộ: tính năng động, cởi mở, tinh thần mạo hiểm và khả năng thích ứng nhanh với cái mới. Tính đến năm 2013, thành phố có 9 đoàn kịch nói, trong đó 8 hoạt động theo mô hình xã hội hóa và duy trì lịch diễn đều đặn hàng tuần.
2. Sân khấu kịch cà phê xuất hiện như thế nào và những nhóm nào tiêu biểu tại TP.HCM?
Kịch cà phê xuất hiện như một đáp ứng với lối sống đô thị hối hả khi người dân không có đủ thời gian xem trọn một vở kịch dài. Hình thức này được biểu diễn tại các quán cà phê, kết hợp giải trí và thư giãn. Từ 2010 đến nay, mô hình này vẫn được duy trì với các nhóm tiêu biểu như nhóm Đời, nhóm Tía Lia.
3. Sân khấu kịch nói TP.HCM gặp khó khăn gì từ sau năm 2015?
Từ 2015, sân khấu kịch nói thành phố bước vào một cuộc khủng hoảng mới với nhiều biểu hiện: khán giả bắt đầu nhàm chán và bội thực; phải cạnh tranh với quá nhiều hình thức giải trí khác; chất lượng vở diễn không cao; kịch bản thiếu hụt; một số diễn viên lơ là đầu tư cho nghề nghiệp. Về quản lý, tình trạng lỏng lẻo trong khâu xét duyệt khiến các vở kịch yếu kém về nội dung lẫn hình thức ra đời, góp phần làm giảm tình yêu của khán giả với sân khấu kịch.
4. Luận án vận dụng lý thuyết của Malinowski vào sân khấu kịch nói như thế nào?
Luận án xem sân khấu kịch nói như một thiết chế và áp dụng khung phân tích của Malinowski gồm sáu thành tố: những người tham gia hoạt động (tác giả, đạo diễn, diễn viên, khán giả, quản lý); quan hệ giữa họ; các quy tắc và chuẩn mực; nội dung hoạt động; công cụ và chất liệu; chức năng được thực hiện. Theo quan điểm của Malinowski, nếu bất kỳ yếu tố nào trong thiết chế bị triệt tiêu thì toàn bộ hệ thống sẽ không vận hành bình thường.
5. Điều gì tạo nên phong vị riêng của kịch nói TP.HCM so với kịch nói Hà Nội?
Theo luận án, có nhiều yếu tố tạo nên sự khác biệt. Thứ nhất là vai trò của cải lương trong việc cung cấp đội ngũ nhân lực (tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên) cho sân khấu kịch nói thành phố — dù kịch nói và cải lương cạnh tranh nhau, cải lương lại là cái nôi gián tiếp nuôi dưỡng kịch nói thành phố. Thứ hai là đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ: sự đa dạng cư dân, tính cởi mở và tinh thần hội nhập sớm với phương Tây. Thứ ba là mô hình xã hội hóa được thực hiện sớm và triệt để hơn, tạo ra sự đa dạng về thể loại và nội dung, trong đó có những hình thức như kịch ma, kịch kinh dị — những thể tài chưa từng xuất hiện và nay được biểu diễn thường xuyên với tình trạng cháy vé.
Kết luận
Luận án Sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2010 đến năm 2020) tiếp cận một hiện tượng văn hóa nghệ thuật đương đại từ góc độ văn hóa học kết hợp liên ngành, đặt sân khấu kịch nói vào bối cảnh đời sống văn hóa của đô thị lớn nhất Việt Nam. Công trình xây dựng khung lý thuyết gồm bốn hệ thống (chức năng luận, lựa chọn duy lý và hành động tự nguyện, vùng văn hóa và văn hóa vùng, biến đổi văn hóa) và khảo sát lịch sử phát triển sân khấu kịch nói Sài Gòn – TP.HCM từ những giai đoạn sơ khai đến năm 2020. Thông qua phân tích mối quan hệ tương tác giữa sân khấu kịch nói với các yếu tố cấu thành đời sống văn hóa thành phố, luận án làm rõ những đặc điểm riêng của kịch nói TP.HCM được tạo nên bởi môi trường văn hóa đô thị, đặc tính vùng văn hóa Nam Bộ và quá trình xã hội hóa từ 1997 đến nay. Trên cơ sở đó, công trình hướng đến đề xuất các phương hướng phát triển gắn kết ba bên liên quan: chính quyền, đơn vị biểu diễn và công chúng nghệ thuật.