Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Sử học và Sử liệu học (mã số 60.16) của nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Hà, với đề tài "Các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê", được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc và TS. Nguyễn Văn Sơn (bảo vệ năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khu di sản Hoàng thành Thăng Long giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xuyên suốt từ thời kỳ thuộc Đường (thành Đại La thuộc An Nam đô hộ phủ) qua các triều đại Lý, Trần, Lê cho đến giai đoạn cận - hiện đại. Mặc dù di tích đã được giới học thuật trong và ngoài nước tiếp cận dưới nhiều giác độ (quy mô, địa giới, mỹ thuật, vật liệu kiến trúc), phần lớn các công trình trước đây chỉ vận dụng phương pháp của từng chuyên ngành riêng lẻ.

Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà luận án chỉ ra là: chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, phân loại có hệ thống và giám định, phê phán các nguồn sử liệu liên quan đến quy mô và cấu trúc Hoàng thành Thăng Long theo hướng liên ngành. Cụ thể, các nghiên cứu trước đó chưa đặt nguồn sử liệu chữ viết (chính sử, thư tịch Hán Nôm cổ, văn bia), nguồn sử liệu bản đồ cổ và nguồn sử liệu vật thực (di tích, di vật khảo cổ học) bên cạnh nhau để so sánh, đối chiếu, kiểm chứng trực tiếp nhằm đưa ra những kết luận khách quan về mặt bằng và diện mạo thành lũy qua các thời kỳ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:

  1. Làm rõ hệ thống các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long.
  2. Xác định độ tin cậy của thông tin trong từng nguồn sử liệu và vai trò của chúng đối với nhận thức lịch sử về cấu trúc không gian qua các triều đại Lý, Trần, Lê.
  3. Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy giá trị sử dụng nguồn sử liệu phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và thuyết minh di sản.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài.
  2. Khảo sát toàn bộ các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long hình thành trong các triều đại Lý, Trần, Lê và các giai đoạn sau có liên quan.
  3. Phân loại các nguồn sử liệu; phân tích đặc điểm bên ngoài (niên đại, địa điểm hình thành, tác giả, vật mang tin) để xác định tính xác thực của nguồn tin.
  4. Khái quát và tái hiện các thông tin lịch sử về quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê phản ánh qua các nguồn sử liệu.
  5. Nhận xét, đánh giá giá trị của các nguồn sử liệu, từ đó đề xuất giải pháp khai thác, phát huy giá trị di sản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các nguồn sử liệu phản ánh quy mô và cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê, bao gồm: sử liệu chữ viết (thư tịch cổ, văn bia), sử liệu bản đồ, sử liệu khảo cổ học (di tích nền móng, vật liệu xây dựng, đồ ngự dụng, đồ dân gian, di cốt, môi trường địa tầng) và sử liệu điền dã dân gian.
  • Phạm vi không gian: Không gian trung tâm Hoàng thành Thăng Long (nơi phát lộ các di tích khảo cổ học quan trọng) cùng các địa điểm liên quan trên phạm vi cả nước có lưu giữ tư liệu, hiện vật phản ánh cấu trúc kinh thành Thăng Long.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII (các triều đại Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng), có mở rộng khảo sát các nguồn tư liệu thời thuộc Đường (thế kỷ VII - IX) ở giai đoạn trước và thời Nguyễn, thời Pháp thuộc ở giai đoạn sau để phục vụ đối chiếu, kiểm chứng.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các dữ liệu phản ánh quy mô diện tích, các vòng thành, trục trung tâm, hệ thống cung, điện, lầu, gác, cổng, cửa, công trình tôn giáo, tín ngưỡng và cảnh quan sinh thái mặt nước, vườn tược.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành hai giai đoạn rõ rệt dựa trên mốc phát lộ địa điểm khảo cổ học 18 Hoàng Diệu vào năm 2002:

Lịch sử nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long

Các nghiên cứu trước năm 2002

  1. Học giả người Pháp:
    • L. Bezacier với công trình Le Art Vietnamien (1955) đã so sánh di vật tìm thấy trong nội thành Hà Nội và Quần Ngựa với hiện vật thời Lý ở Bắc Ninh, tuy nhiên có sự nhầm lẫn khi quy toàn bộ hiện vật thời Lý - Trần về thuật ngữ "Nghệ thuật Đại La" (thế kỷ IX - XI).
    • H. Parmentier và Mercier nhận định các cung điện thời Lê được xây dựng chồng đè lên nền di tích thời Lý, Trần; đồng thời suy đoán khu vực Quần Ngựa ở phía Tây là các Hí cung (Palais de Plaisance) của hoàng đế.
  2. Học giả Việt Nam:
    • GS. Trần Quốc Vượng trong công trình "Địa lý lịch sử miền Hà Nội (trước thế kỷ XI)" (1959) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử cho rằng chu vi thành Đại La khoảng 6 km², diện tích trên dưới 2 km², trung tâm nằm ở miền Quần Ngựa; đến thời Lê mới dời thành về phía Đông sát sông Hồng.
    • Các học giả Trần Huy Liệu (1960), Biệt Lam Trần Huy Bá, Vũ Tuấn Sán (1975), Phạm Hân tranh luận về vị trí các di tích núi Nùng, núi Sưa, núi Cung và ranh giới thành cổ. Hầu hết các ý kiến giai đoạn này đều phỏng đoán Hoàng thành nằm lệch về phía Tây thành Hà Nội thời Nguyễn.
    • Các đợt khai quật, thám sát quy mô nhỏ được tiến hành tại Tây Nam núi Cung (1970 - 1971), Đồng Gạch - Đồng Giếng (1972), Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973), chùa Chân Giáo (1978), Ngọc Khánh, Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn bước đầu phát hiện các dấu tích kiến trúc lát gạch hoa chanh, chân tảng đá và đồ gốm sứ thời Lý - Trần - Lê.

Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay

Sau khi phát lộ khu di tích 18 Hoàng Diệu năm 2002, nhiều công trình chuyên sâu được công bố:

  • GS. Phan Huy Lê (2006, 2012): Xác định cấu trúc không gian Thăng Long gồm ba vòng thành: La Thành (Đại La), Hoàng thành và Cấm thành. Tác giả chỉ ra rằng La Thành và Hoàng thành có sự thay đổi quy mô qua các triều đại, nhưng vị trí và quy mô Cấm thành hầu như không thay đổi; Cấm thành là trung tâm bất biến qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê.
  • PGS. TS. Tống Trung Tín và PGS. TS. Bùi Minh Trí (2006, 2012): Công bố kết quả khai quật tại các khu A, B, C, D (18 Hoàng Diệu). Các tác giả nhận diện hệ thống móng trụ sỏi gia cố chân cột chịu lực, hệ thống thoát nước gạch, các mặt bằng kiến trúc nhiều gian (kiến trúc nhà dài 13 gian khu B, kiến trúc 11 gian khu A11 diện tích 1.200 m², kiến trúc lầu lục giác/Trà Đình). Đồng thời, Bùi Minh Trí phân tích kỹ thuật "cột âm" (chôn cột gỗ xuống lòng đất kê ngói vỡ) của 17 công trình kiến trúc thời Đại La phát hiện tại khu vực xây dựng Nhà Quốc hội (2008 - 2009), khẳng định Cấm thành Thăng Long được xây dựng trực tiếp trên cơ tầng phủ thành Đại La.
  • GS. Kazuto Inoue (Nhật Bản): Nghiên cứu hệ tọa độ dựa trên điểm mốc điện Kính Thiên và quy đổi thước đo cổ thời Tống (1 thước = 29,9 cm). Tác giả tính toán khoảng cách trục Đông - Tây của dãy kiến trúc lục giác thời Lý là 209,4 m (tương đương 700 thước), xác định con đường lát gạch SF026 cao hơn mặt bằng xung quanh chính là Trì Đạo (Liễn Lộ) dành cho Hoàng đế, và phỏng dựng mô hình tháp lục giác 9 tầng.
  • GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên, 2012): Công trình Không gian khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tư liệu và nhận thức tập hợp 16 bài nghiên cứu của 15 học giả (Phan Huy Lê, Momoki Shiro, Yumio Sakurai, Đỗ Thùy Lan, Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí, Hà Văn Cẩn, Ueno Kunikazu, Tống Văn Lợi, Vũ Đường Luân, Phạm Lê Huy, Bùi Văn Liêm, Olivier Tessier...). GS. Nguyễn Quang Ngọc khẳng định tính ổn định của trục trung tâm Càn Nguyên (Lý) - Thiên An (Trần) - Kính Thiên (Lê) gắn liền với sân Long Trì - Đan Trì và Đoan Môn; chứng minh quy mô Hoàng thành chỉ thực sự được mở rộng bề thế ra khu vực Tổng Nội từ thời vua Lê Thánh Tông (được quy định trong Quốc triều hình luật).
  • Các luận án, luận văn chuyên đề: Luận án tiến sĩ của Phạm Văn Triệu (2015) khảo sát 54 di tích kiến trúc thời Lý; các luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Lan (2006), Bùi Văn Hiếu (2011), Vũ Đường Luân, Tống Văn Lợi, Chu Thị Hiền (2017), Đỗ Đức Tuệ (2017) khảo sát từng khía cạnh như ngói trang trí, móng kiến trúc, bản đồ cổ và hiện vật cụ thể.
Tiêu chí so sánh Giai đoạn trước năm 2002 Giai đoạn từ năm 2002 đến nay
Nguồn tư liệu chủ yếu Thư tịch cổ, bản đồ địa chính muộn, hiện vật rải rác bề mặt Di tích ngầm phát lộ quy mô lớn tại 18 Hoàng Diệu, Nhà Quốc hội kết hợp thư tịch, bi ký
Nhận định vị trí Hoàng thành Phỏng đoán nằm ở phía Tây (khu vực Quần Ngựa, Bách Thảo) Khẳng định trung tâm Cấm thành nằm tại khu vực 18 Hoàng Diệu - Điện Kính Thiên
Nhận diện quy mô, cấu trúc Nhận định chung chung, còn mang tính suy đoán Đo đạc chính xác mặt bằng kiến trúc, xác định trục chính tâm, quy chuẩn thước đo và tải trọng kết cấu
Phương pháp tiếp cận Đơn ngành (chủ yếu là sử học tư liệu hoặc mỹ thuật học) Liên ngành: Khảo cổ học, Sử liệu học, Văn bản học, Hán Nôm học, Địa tầng môi trường

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa các phát hiện khảo cổ và thư tịch mới để thực hiện một công trình sử liệu học chuyên biệt: tập hợp, phân loại, giám định có hệ thống toàn bộ các nguồn sử liệu; phân tích độ tin cậy và sự tương đồng/dị biệt giữa thư tịch Hán Nôm, văn bia, bản đồ cổ và hiện vật khảo cổ học; từ đó dựng lại bức tranh quy mô, cấu trúc Hoàng thành và Cấm thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê một cách toàn diện.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử liệu học

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp trường phái Thực chứng (Positivisme) do Charles-Victor Langlois và Charles Seignobos khởi xướng (Lịch sử được viết bằng tư liệu), cùng quan điểm của GS. Đào Duy Anh về thực nghiệm luận.

Về mặt lý thuyết sử liệu, tác giả vận dụng các khái niệm:

  • Khái niệm sử liệu: Tiếp cận định nghĩa của C. Smidt, PGS. TS. Phạm Xuân Hằng và TS. Đinh Thị Thùy Hiên: "Sử liệu là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và xã hội con người mà từ đó có thể khai thác được những thông tin về lịch sử hoạt động của con người".
  • Phân kỳ chức năng sử liệu:
    • Tiền sử liệu (T1): Những tàn tích, sản phẩm vật chất và tinh thần thuộc về quá khứ tồn tại khách quan nhằm phục vụ đời sống đương thời nhưng chưa được sử dụng để nhận thức lịch sử.
    • Sử liệu nhận thức (T2): Những mảnh ghép thông tin được nhà nghiên cứu khai thác, đặt vào bối cảnh khoa học để chứng minh các giả định lịch sử.
  • Sử liệu tiềm năng và sử liệu hiệu quả: Phân biệt nguồn sử liệu sẵn có chưa khai thác hết với nguồn sử liệu đang trực tiếp phục vụ giải quyết đề tài.
Mô hình xử lý và phân loại nguồn sử liệu của Luận án

Các khái niệm không gian và cấu trúc thành lũy

Luận án khảo cứu, chuẩn hóa các thuật ngữ địa lý - lịch sử xuất hiện trong tư liệu:

  • La Thành / Thành Đại La / Kinh Phủ / Đô Hộ Phủ: Vòng thành ngoài cùng bao bọc kinh đô, có từ thời thuộc Đường (Trần Bá Nghi đắp năm 767, Cao Biền đắp năm 866), được nhà Lý tái sử dụng làm vòng ngoài của Thăng Long.
  • Thăng Long thành (Long thành / Phượng thành / Long Phượng thành): Thuật ngữ chỉ tòa Hoàng thành (vòng thành thứ hai), nơi đặt trụ sở làm việc của triều đình và các cơ quan quản lý.
  • Cấm thành / Đại Nội / Cấm Nội / Cung Cấm: Vòng thành trong cùng, nơi đặt các chính điện thiết triều, cung thất dành riêng cho vua, hoàng thái hậu, hoàng hậu, thái tử và hoàng gia sinh hoạt.
  • Cựu Kinh và Tân Kinh: Cuối thời Lý (năm 1219), Trần Tự Khánh xây dựng căn cứ riêng tại bến Đại Thông (thuộc khu vực Thanh Trì - Hoàng Mai) gọi là "Tân Kinh", phân biệt với "Cựu Kinh" là Thăng Long.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp sử liệu học chữ viết và văn bản học: Giám định niên đại, tác giả, dị bản; đối chiếu văn bản chữ Hán nguyên bản với các bản dịch tiếng Việt; so sánh giữa các bộ chính sử khác nhau (Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên).
  2. Phương pháp so sánh, đối chiếu liên ngành (Interdisciplinary approach):
    • So sánh sử liệu chữ viết với sử liệu vật thực (đối chiếu ghi chép về cung điện trong sử cũ với nền móng kiến trúc và ngói lợp xuất lộ tại 18 Hoàng Diệu).
    • So sánh sử liệu chữ viết với sử liệu bản đồ (Hồng Đức bản đồ với các ghi chép của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú).
    • So sánh loại hình di vật giữa các không gian khảo cổ (đối chiếu gạch khắc chữ "Vĩnh Ninh trường" tại Hoàng thành Thăng Long với hiện vật tại di tích Thành nhà Hồ - Thanh Hóa).
  3. Phương pháp thống kê, định lượng: Lập hệ thống bảng biểu thống kê hàng trăm hạng mục công trình cung, điện, lầu, gác, cổng, cửa, chùa, quán, ao hồ qua các triều đại Lý, Trần, Lê (ghi rõ năm khởi dựng, trùng tu, nguồn sử liệu ghi nhận).
  4. Phương pháp tính toán tải trọng kết cấu kiến trúc: Sử dụng công thức toán học tính diện tích mái che, quy cách ngói lợp (ngói cánh sen thời Lý kích thước 40 x 25 x 2,5 cm, nặng 6 kg/viên; mật độ 16 viên/m² = 96 kg/m²) để tính tổng tải trọng mái công trình A1 (diện tích mái 1.002 m²) lên tới gần 100 tấn, từ đó lý giải kỹ thuật làm móng trụ sỏi đầm chặt để chống lún sụt.

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Sử liệu chữ viết: Các bộ chính sử (Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục chính biên), các tập địa chí, khảo cứu (Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch triều tạp kỷ, An Nam chí nguyên, Thiền uyển tập anh). Nguồn bi ký gồm thác bản văn bia thời Lý - Trần - Lê tại Thăng Long, Tứ trấn và 82 bia Đề danh Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
  • Sử liệu bản đồ: Hồng Đức bản đồ (thời Lê) và hệ thống bản đồ thành Hà Nội thời Nguyễn (thế kỷ XIX).
  • Sử liệu vật thực: Hồ sơ, báo cáo và hiện vật khai quật khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu, 62 - 64 Trần Phú, khu vực Nhà Quốc hội và trục Đoan Môn - Điện Kính Thiên (chân tảng đá hoa sen, móng trụ sỏi, cột gỗ chôn ngầm, gạch có chữ "Giang Tây quân", "Giang Tây chuyên", "Vĩnh Ninh trường", đồ gốm sứ ngự dụng mang biểu tượng rồng, gốm men xanh thời Đường, gốm Hồi giáo vùng Tây Á).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 khái quát quá trình nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018. Tác giả phân tích các khuynh hướng học thuật của học giả Pháp (L. Bezacier, H. Parmentier, Mercier) và các học giả Việt Nam thế hệ đầu (Trần Quốc Vượng, Trần Huy Liệu, Trần Huy Bá, Vũ Tuấn Sán).

Chương này làm rõ bước chuyển biến lớn sau phát hiện khảo cổ học năm 2002 tại 18 Hoàng Diệu với hàng loạt hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế (2004, 2006). Tác giả tổng hợp các hướng nghiên cứu tiêu biểu của Phan Huy Lê, Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí, Kazuto Inoue, Nguyễn Quang Ngọc, đồng thời chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc công bố kết quả khai quật hoặc nghiên cứu từng chủ đề riêng lẻ, chưa có công trình nào khảo sát và đánh giá toàn diện hệ thống sử liệu về quy mô và cấu trúc thành lũy dưới góc độ sử liệu học chuyên sâu.

Chương 2: Phân loại các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc Hoàng Thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê

Chương 2 tập trung phân tích hệ thống khái niệm sử liệu, khảo sát các thuật ngữ địa danh thành lũy và tiến hành phân loại chi tiết các nguồn sử liệu:

Phân loại nguồn sử liệu Hoàng thành Thăng Long
Nhóm sử liệu Danh mục nguồn tài liệu tiêu biểu Giá trị thông tin đối với quy mô, cấu trúc Hạn chế nội tại của nguồn tin
Sử liệu chữ viết Việt sử lược, ĐVSKTT, ĐVSKTB, LTHCLC, Bia Tiến sĩ Văn Miếu Cung cấp tên gọi, niên đại xây dựng, trùng tu, chức năng thiết triều, nghi lễ, biến cố chiến tranh, thiên tai Miêu tả trừu tượng, ước lệ, thiếu thông số kích thước cụ thể, ghi chép tản mát
Sử liệu bản đồ Hồng Đức bản đồ, Bản đồ Hà Nội thế kỷ XIX Thể hiện trực quan không gian hình học, tường thành, vị trí các cửa, hồ nước, trục giao thông Bản đồ vẽ theo phương pháp cổ, tỷ lệ mang tính quy ước, biến dạng qua các lần khắc in lại
Sử liệu vật thực Nền móng trụ sỏi, cột gỗ, gạch Vĩnh Ninh trường, ngói sen, cống gạch Cung cấp số đo thực tế, bước gian, diện tích mặt bằng, kỹ thuật chống lún, loại hình vật liệu Nhiều di tích bị cắt phá, chồng xếp tầng văn hóa; diện tích phát lộ chưa bao quát toàn bộ
Sử liệu dân gian Truyền thuyết Thần Kim Quy, Cao Biền, truyện dân gian quanh Thăng Long Bổ trợ nhận thức về cảnh quan sinh thái, tâm thức văn hóa, địa danh dân gian Chứa đựng yếu tố huyền thoại, dị bản nhiều, cần kiểm chứng cẩn trọng

Chương 3: Quy mô và cấu trúc của Hoàng Thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê qua các nguồn sử liệu

Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, phục dựng diễn trình biến đổi không gian kiến trúc qua các thời kỳ:

1. Thời kỳ tiền Thăng Long (thời Đường)

  • Dấu tích thành Đại La (lị sở An Nam Đô Hộ Phủ) nằm ngay dưới tầng văn hóa thời Lý tại khu vực 18 Hoàng Diệu và Nhà Quốc hội.
  • Khảo cổ học phát hiện 17 công trình kiến trúc thời Đại La với kỹ thuật "cột âm" (chôn cột gỗ xuống hố đất, lót ngói vỡ và sỏi hạt nhỏ pha cát dưới đáy móng), gạch khắc chữ "Giang Tây quân", "Giang Tây chuyên", mảnh gốm men xanh thời Đường và gốm Hồi giáo Tây Á. Điều này khẳng định Cấm thành Thăng Long được quy hoạch trực tiếp trên nền lị sở Đại La cũ.

2. Hoàng thành Thăng Long thời Lý (1010 - 1225)

  • Quy hoạch buổi đầu (1010) và thế kỷ XI - XII: Sau Chiếu dời đô, Lý Thái Tổ đắp thành, xây dựng Cấm thành và các điện Càn Nguyên, Tập Hiền, Giảng Võ. Đến năm 1203 - 1216, vua Lý Cao Tông cho xây dựng khu vực "Tân cung" với quy mô tráng lệ.
  • Cấu trúc mặt bằng và chức năng: Hệ thống cung điện bố trí theo hướng Đông - Tây và Bắc - Nam; xuất hiện các công trình "Thảo điện" phục vụ sinh hoạt mùa hè; thiết chế Đông Cung Thái Tử nằm riêng biệt; các công trình kiến trúc Phật giáo, lầu lục giác thưởng trà (Trà Đình); không gian sân Long Trì được thiết kế làm nơi tổ chức đại lễ và hội đèn Quảng Chiếu.
  • Kỹ thuật xây dựng: Sử dụng móng trụ sỏi gia cố chân tảng đá hoa sen để nâng đỡ các công trình nhà gỗ nhiều gian có bộ mái nặng hàng trăm tấn (điển hình như kiến trúc A1 diện tích trên 1.000 m²).

3. Hoàng thành Thăng Long thời Trần (1225 - 1400)

  • Kế thừa và cải tạo cấu trúc thời Lý sau các cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên.
  • Điểm đặc trưng trong cấu trúc thời Trần là sự xuất hiện của cung Thánh Từ (nơi ở của Thái Thượng hoàng) và cung Quan Triều (nơi ở và làm việc của Hoàng đế đương nhiệm), phản ánh chế độ trị nước đặc thù lưỡng đầu thời Trần.
  • Thiết lập hệ thống cung thất cho Thái tử, hệ thống cửa thành (Đại Hưng, Tường Phù, Quảng Phúc, Diệu Đức), cùng không gian sinh thái mặt nước (ao, hồ, cầu, vườn ngự uyển). Cuối thời Trần (1397), triều đình sử dụng gạch khắc chữ "Vĩnh Ninh trường" phục vụ xây dựng kinh đô mới trước khi dời vào Tây Đô (Thanh Hóa).

4. Hoàng thành Thăng Long thời Lê (Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng)

  • Khu vực chính điện Kính Thiên và Đoan Môn: Trục trung tâm được củng cố vững chắc từ Đoan Môn qua sân Đan Trì đến chính điện Kính Thiên (xây dựng trên núi Nùng năm 1428).
  • Mở rộng quy mô dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497): Tòa Hoàng thành được củng cố, mở rộng bao lấy toàn bộ khu vực Tổng Nội; Cấm thành được tổ chức lại thành Cung thành với nhiều lớp cửa, kiểm soát nghiêm ngặt theo quy định của Quốc triều hình luật.
  • Khu vực phía Tây và biến động thời Lê Trung hưng: Giai đoạn nội chiến Nam - Bắc triều và thời Lê Trung hưng khiến nhiều cung điện bị tàn phá, cấu trúc phía Tây có sự thu hẹp và thay đổi công năng sử dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Nhận diện toàn diện hệ thống sử liệu: Luận án là công trình sử liệu học đầu tiên khảo sát, tập hợp và phân loại một cách hệ thống, đầy đủ các nguồn sử liệu liên quan đến quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê trên cả 4 nhóm: chữ viết, vật thực, bản đồ và dân gian.
  2. Xác định tính xác thực và phương pháp phê phán sử liệu: Phân tích rõ ưu điểm, hạn chế của từng loại hình sử liệu; chỉ ra độ chênh giữa ghi chép ước lệ trong sử cũ Hán Nôm và hiện vật nền móng khai quật ngầm, từ đó thiết lập phương pháp kiểm chứng liên văn bản và liên ngành.
  3. Chứng minh tính liên tục và biến đổi của cấu trúc kinh thành:
    • Khẳng định vị trí bất biến của trục chính tâm Cấm thành (từ Đoan Môn qua sân Long Trì/Đan Trì đến điện Càn Nguyên thời Lý, điện Thiên An thời Trần và điện Kính Thiên thời Lê).
    • Chứng minh Cấm thành thời Lý được khởi dựng trực tiếp trên cơ tầng phủ thành Đại La thời Đường (thông qua dấu tích 17 công trình cột âm và đồ gốm Đường).
    • Làm rõ bước ngoặt mở rộng quy mô Hoàng thành ra khu vực Tổng Nội dưới triều vua Lê Thánh Tông thế kỷ XV.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện tích hợp văn bản Hán Nôm, bản vẽ khảo cổ học và bản đồ địa chính phục vụ nghiên cứu lâu dài.
  2. Ứng dụng kết quả đối chiếu sử liệu vào công tác bảo tồn nguyên vị các móng trụ sỏi, cống thoát nước và phục dựng không gian phi vật thể (lễ hội đèn Quảng Chiếu, đại triều sân Long Trì).
  3. Sử dụng các tư liệu khảo cứu của luận án để chuẩn hóa nội dung bảng biển chỉ dẫn, hồ sơ thuyết minh di sản phục vụ công chúng tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung sâu vào giai đoạn Lý - Trần - Lê sơ (thế kỷ XI - XV); các giai đoạn Mạc, Lê Trung hưng và biến động thời Nguyễn, thời Pháp thuộc chưa được phân tích sâu ở mức độ tương đương do phạm vi đề tài tự giới hạn. Bên cạnh đó, nhiều vị trí trong khu di sản Hoàng thành Thăng Long chưa được khai quật toàn diện (do vướng các công trình hiện đại), khiến một số phán đoán về mặt bằng kiến trúc thời Đại La và thời Lê Trung hưng vẫn phải dựa trên các mảnh ghép đơn lẻ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục cập nhật các kết quả khai quật khảo cổ học tại trục trung tâm Điện Kính Thiên (khu vực số 9 Hoàng Diệu); mở rộng giám định nguồn bi ký thời Mạc - Lê Trung hưng ở các vùng phụ cận Thăng Long; ứng dụng công nghệ 3D để mô phỏng hóa cấu trúc các cung điện trên cơ sở kết hợp kích thước móng trụ sỏi và thư tịch điển chế.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp khung phương pháp luận sử liệu học thực chứng và hệ thống phụ lục bảng biểu thống kê đồ sộ về hàng trăm công trình kiến trúc qua ba triều đại Lý, Trần, Lê (Phụ lục I đến VII), rất hữu ích cho các chuyên ngành Lịch sử, Sử liệu học, Khảo cổ học, Hán Nôm học và Kiến trúc cổ truyền.
  • Đối với giảng viên đại học: Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Phương pháp luận sử học, Đại cương Sử liệu học và Lịch sử đô thị Thăng Long - Hà Nội.
  • Đối với các nhà quản lý, bảo tồn di sản: Cung cấp căn cứ khoa học xác thực phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn vùng lõi di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long, thẩm định các dự án phục dựng kiến trúc Điện Kính Thiên và biên soạn nội dung trưng bày bảo tàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Trước năm 2002, giới nghiên cứu nhận định vị trí Hoàng thành Thăng Long ở đâu?

Trước khi phát lộ địa điểm 18 Hoàng Diệu năm 2002, do thiếu dữ liệu khảo cổ học ngầm và chỉ dựa vào các hiện vật lẻ tẻ thu được tại Quần Ngựa cùng thư tịch muộn, các học giả Pháp (L. Bezacier, Parmentier) và một số học giả Việt Nam (Trần Quốc Vượng, Trần Huy Liệu, Trần Huy Bá) từng phỏng đoán trung tâm thành Đại La và Hoàng thành Thăng Long nằm lệch về phía Tây thành Hà Nội thời Nguyễn (khu vực Quần Ngựa, Bách Thảo).

2. Dấu tích khảo cổ học nào khẳng định Cấm thành Thăng Long nằm trực tiếp trên nền thành Đại La thời Đường?

Các đợt khai quật tại khu B, D (18 Hoàng Diệu) và khu vực xây dựng Nhà Quốc hội (2008 - 2009) đã phát hiện 17 dấu tích công trình thời Đại La với kỹ thuật "cột âm" (chôn cột gỗ xuống hố đất lót ngói vỡ), các lớp gạch khắc chữ Hán "Giang Tây quân", "Giang Tây chuyên", đồ gốm men xanh thời Đường và gốm Hồi giáo Tây Á nằm trực tiếp bên dưới các móng trụ sỏi thời Lý.

3. Tải trọng bộ mái của kiến trúc thời Lý được luận án tính toán như thế nào?

Dựa trên kiến trúc A1 (kích thước mặt bằng 60,3 m x 12 m, diện tích 2 mái lợp là 1.002 m²) và loại ngói cánh sen nguyên vẹn tìm thấy tại hố khai quật (kích thước 40 x 25 x 2,5 cm, nặng 6 kg/viên, mật độ 16 viên/m² = 96 kg/m²), tác giả tính toán riêng tổng trọng lượng ngói lợp của công trình đạt khoảng 96,25 tấn (chưa tính hệ thống khung gỗ xà, rui, mè, đấu củng). Trọng lượng đồ sộ này lý giải vì sao người thời Lý phải xử lý móng trụ sỏi đầm nén quy mô lớn (1,3 m x 1,3 m) để chống sụt lún.

4. Khái niệm "Tân Kinh" và "Cựu Kinh" trong Việt sử lược phản ánh sự kiện lịch sử gì?

Vào năm 1219 (cuối thời Lý), Trần Tự Khánh có ý định lập kinh đô riêng tại bến Đại Thông (khu vực Quỳnh Đô, nay thuộc Thanh Trì - Hoàng Mai) và xây dựng các cung điện mô phỏng triều đình, gọi nơi này là "Tân Kinh". Do đó, chính sử (Việt sử lược) sử dụng thuật ngữ "Cựu Kinh" để chỉ kinh đô Thăng Long.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Hà đã giải quyết một cách tường minh các vấn đề sử liệu học liên quan đến quy mô và cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê. Thông qua việc phân loại, phê phán và đặt các nguồn sử liệu chữ viết, văn bia, bản đồ cổ bên cạnh nguồn sử liệu vật thực khảo cổ học, công trình đã xác lập độ tin cậy khoa học của từng nguồn thông tin. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính ổn định vững chắc của trục chính tâm Cấm thành từ thời thuộc Đường qua các triều đại Lý, Trần, Lê, đồng thời làm rõ sự phát triển, mở rộng của tòa Hoàng thành dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đây là công trình sử liệu học có giá trị tư liệu cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội.