ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội Việt Nam có những bước phát triển mới, vấn đề sức khoẻ cũng ngày càng được quan tâm. Đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em. Đặc biệt, mang thai và sinh con là thiên chức cao quý của người phụ nữ. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều phụ nữ gặp khó khăn trong vấn đề sinh nở, ảnh hưởng đến quá trình sinh ngả (đường) âm đạo dẫn đến việc phải mổ lấy thai.
Tỷ lệ mổ lấy thai đang gia tăng ở nhiều nước trên thế giới. Mexico là nước có tỷ lệ mổ lấy thai cao nhất theo khảo sát vào năm 2007, 2008 là 43,9%, Italy là 39,8%, Hàn Quốc là 35,3%, Mỹ là 31,8% [55]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mổ lấy thai cũng khá cao và tăng dần hàng năm. Số liệu của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh từ giữa thập kỷ 50 đến hết thập kỷ 60 cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai khoảng 9%, đến những năm đầu thập kỷ 90 đã lên đến 23% [10].
Gần đây nhất, theo nghiên cứu trên 21.722 trường hợp đẻ tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 cho thấy có đến 11.166 trường hợp phẫu thuật lấy thai, chiếm tỷ lệ 54,4% [4]. Đối với phương pháp mổ lấy thai, sản phụ cần có thời gian lâu hơn để phục hồi sức khỏe và cũng có nhiều nguy cơ xảy ra tai biến nhiều hơn cho cả mẹ và con. Về phía mẹ, sinh mổ mất máu nhiều hơn so với sinh thường, tăng nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, tử cung và bàng quang. Tổn thương các cơ quan như ruột bàng quang, đặc biệt trong các trường hợp mổ lấy thai được lặp lại.
Quá trình liền sẹo có thể gây đau và tắc ruột sau khi mổ. Tăng thời gian và chi phí nằm viện [29],[48]. Theo nghiên cứu của Trần Sơn Thạch và cộng sự (2007) tại bệnh viện Hùng Vương cho thấy có 6,8% bà mẹ được chẩn đoán là nhiễm trùng tiểu sau mổ lấy thai [31]. Theo nghiên cứu của Lưu Tuyết Minh và cộng sự (2014) tại bệnh viện Bạch Mai thì tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới ở bà mẹ sau mổ lấy thai là 13,5% [24].
Theo Lê Thu Đào (2012) tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc tốt sau mổ lấy thai là 32%, tỉ lệ này khá thấp so với tỉ lệ bà mẹ chưa được chăm sóc tốt là 68% [13]. Hiện nay, cùng với sự gia tăng đáng kể tỷ lệ mổ lấy thai thì vấn đề chăm sóc hậu phẫu của sản phụ sau mổ lấy thai là vô cùng quan trọng. Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, 80% số ca tử vong ở mẹ có thể ngăn chặn được, nếu sản phụ được chăm Thang Long University Library 2 sóc thiết yếu trong và ngay sau đẻ. Ngoài việc được chăm sóc như một sản phụ sinh thường, điều dưỡng viên cần có kế hoạch chăm sóc đặc biệt cho sản phụ sau mổ lấy thai nhằm hạn chế các biến chứng giúp sản phụ sớm trở về với hoạt động bình thường.
Những nghiên cứu liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe sản phụ sau mổ lấy thai là thực sự cần thiết, đây là cơ sở để điều dưỡng viên xây dựng được kế hoạch chăm sóc cho sản phụ, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện để mang lại sức khỏe tốt nhất cho những bà mẹ. Tại khoa Sản bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, hàng năm có đến hàng nghìn ca mổ lấy thai. Chính vì vậy, để biết được tình hình chăm sóc sản phụ sau mổ lấy thai tại khoa Phụ sản bệnh viện Bạch Mai hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kết quả chăm sóc sản phụ sau mổ tại đây?” chúng tôi thực hiện đề tài: “Kết quả chăm sóc điều trị sản phụ sau mổ lấy thai và một số yếu tố liên quan tại khoa Phụ Sản bệnh viện Bạch Mai năm 2020-2021” Với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của sản phụ sau mổ lấy thai tại khoa Phụ sản bệnh viện Bạch Mai.
Phân tích kết quả chăm sóc của các sản phụ trên và một số yếu tố liên quan tại khoa Phụ sản bệnh viện Bạch Mai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu, sinh lý hệ sinh dục nữ 1. Giải phẫu cơ quan sinh dục nữ Cơ quan sinh dục của nữ gồm: cơ quan sinh dục trong (buồng trứng, vòi tử cung, tử cung và âm đạo) và bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ, âm vật, ngoài ra còn có vú là tuyến tiết sữa trong thời kỳ nuôi con) [11], [27], [29].
Cơ quan sinh dục trong gồm: 2 buồng trứng là tuyến vừa ngoại tiết (tiết ra trứng) vừa nội tiết (tiết ra nội tiết tố nữ quyết định giới tính sinh dục phụ). 2 vòi tử cung để dẫn trứng về buồng tử cung, tử cung là cơ quan chứa thai và đẩy thai ra ngoài, âm đạo là đường dẫn thai ra ngoài từ tử cung. Bộ phận sinh dục ngoài gồm âm hộ là cơ quan giao hợp của nữ, âm vật tương đương dương vật ở nam và lỗ niệu đạo [11], [29], [26]. Sinh lý của bà mẹ khi mang thai Thụ tinh là sự kết hợp giữa một tế bào đực là tinh trùng với một tế bào cái là noãn để thành một tế bào có khả năng phát triển rất nhanh gọi là trứng [10], [15].
Cơ chế thụ tinh Nguồn: Theo Phạm Thị Minh Đức - Sinh lý học (2011) [15] Sự phát triển của trứng và phần phụ của trứng: sau khi thụ tinh, trứng phân chia rất nhanh để cấu tạo thành thai nhi và phần phụ của thai nhi để giúp cho sự phát triển của thai. Quá trình phát triển của trứng chia làm 2 thời kỳ: Thời kỳ sắp xếp tổ chức (bắt đầu từ lúc thụ tinh tới hết tháng thứ 2) và thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức (từ tháng thứ ba đến khi đủ tháng) [10], [15]. Thang Long University Library 4 1. Tổng quan về mổ lấy thai 1.
Định nghĩa mổ lấy thai Mổ lấy thai là một phẫu thuật nhằm lấy thai nhi, nhau và màng ối qua một vết mổ ở thành tử cung đang nguyên vẹn. Định nghĩa này không bao hàm việc mổ bụng lấy một thai ngoài tử cung nằm trong ổ bụng hoặc lấy một thai nhi đã rơi một phần hay toàn bộ vào trong ổ bụng do vỡ tử cung [14], [39]. Chỉ định mổ lấy thai Ngày nay mổ lấy thai được chỉ định trong những trường hợp mà cuộc sinh ngã âm đạo tỏ ra không an toàn cho mẹ và thai nhi. Nhiều chỉ định rất rõ ràng nhưng có những chỉ định là tương đối.
Trong nhiều trường hợp cần cân nhắc trong mổ lấy thai hoặc sinh ngã âm đạo để có được chỉ định tối ưu. Các chỉ định thông thường nhất - Bất tương xứng đầu chậu - Khởi phát chuyển dạ thất bại - Rối loạn cơn gò tử cung không điều chỉnh được bằng thuốc - Cổ tử cung không tiến triển - Nhau tiền đạo trung tâm nhưng phần lớn các trường hợp nhau tiền đạo bán trung tâm - Nhau bong non - Sa dây rốn ở thai có khả năng sống nhưng không đủ điều kiện để sinh ngã âm đạo tức thì - Ngôi bất thường - Suy thai trong chuyển dạ - Thai kém phát triển trong tử cung, mạng sống bào thai đang bị đe dọa - Thai quá ngày có chống chỉ định khởi phát chuyển dạ - Vết mổ cũ thân tử cung + một bất thường khác - Rốn quấn cổ > 2 vòng - Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn 1. Các chỉ định khác - Herpes sinh dục đang tiến triển - Chấm dứt thai kỳ sớm trên mẹ tiểu đường 5 - Dò bàng quang - âm đạo, trực tràng - âm đạo mới được tạo hình [14] * Những yếu tố thường được suy xét thêm vào chỉ định mổ nhưng không phải là chỉ định mổ lấy thai: - Con so lớn tuổi - Con quý hiếm * Những yếu tố làm cho chỉ định mổ cần được cân nhắc - Thai đã chết - Thai có dị tật quan trọng đã được xác định - Thai còn quá non tháng, khó có khả năng sống. Kỹ thuật mổ lấy thai 1.
Mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai đây là phương pháp thông dụng nhất Thời điểm mổ lấy thai: tốt nhất là vào thời điểm chuyển dạ, lúc này đoạn dưới tử cung thành lập tốt. Trong những trường hợp có vết mổ cũ trên cơ tử cung thường mổ lấy thai ngay khi có bắt đầu vào chuyển dạ. Vô cảm: Có thể gây tê ngoài màng cứng, tê tủy sống, mê nội khí quản hay gây tê tại chỗ. Đường vào: Có thể một trong hai đường sau: (1) Đường trắng giữa dưới rốn trên xương vệ: đây là đường cơ động, rộng có thể thực hiện rất nhanh và lấy thai ra dễ dàng.
Nếu mổ lại lần sau phẫu thuật cũng dễ dàng hơn. (2) Đường ngang trên vệ: có nguy cơ thoát vị trên thành bụng, sau mổ thẩm mỹ nhưng thời gian mở bụng lâu hơn mổ lại lần sau sẽ khó khăn hơn do vết mổ thấp nằm gần bang quang. - Mở phúc mạc tử cung là phần phúc mạc của đoạn dưới tử cung - Mở ngang đoạn dưới tử cung lấy thai: Xác định đoạn dưới tử cung thành lập tốt, dùng dao mổ một đường rạch ngang dài khoảng 3 cm, đường rạch này hơi thấp hơn đường mở phúc mạc. + Trong những trường hợp mổ lúc chưa vào chuyển dạ, đoạn dưới tử cung chưa thành lập tốt nên mổ tử cung phía trên đáy bàng quang khoảng 2- 3cm.
+ Trường hợp mổ lúc đã chuyển dạ giai đoạn hoạt động: bàng quang kéo lên cao do đoạn dưới tử cung đã kéo dài đường mổ tử cung không nên quá thấp vì nguy cơ sẽ mổ trên cổ tử cung. Thang Long University Library 6 + Sau đó dùng kéo mở rộng đường rạch ngang hai bên thành một đường hình vòng cung dài khoảng 10 cm với bề cong lõm hướng lên trên. Chú ý đường cắt phải cong và luôn hướng lên trên để đường cắt đủ dài mà không phạm phải động mạch tử cung ở 2 cạnh bên tử cung. + Trong trường hợp đoạn dưới tử cung đã căng mỏng có thể dùng hai ngón tay xẻ ngang đoạn dưới thay vì cắt.
Lấy thai: là khâu khó nhất vì phải lấy thai nhanh đồng thời không làm rách thêm vết mổ: + Trong ngôi đầu: Cho bàn tay vào phía dưới đầu thai đẩy đầu thai lên ngang với mép vết mổ tử cung, sau đó đẩy nhẹ nhàng vào đáy tử cung để ngôi thai trượt trên bàn tay và thoát từ từ ra khỏi vết mổ. Nếu đầu xuống thấp, phải đẩy đầu lên. + Trong ngôi mông: lấy thai bằng chân hay mông. + Trong ngôi ngang: lấy thai bằng chân.