CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh học mổ lấy thai 1. Định nghĩa mổ lấy thai Mổ lấy thai là trường hợp thai và phần phụ của thai được lấy ra khỏi tử cung qua đường rạch của thành tử cung và đường rạch của thành bụng. Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vở tử cung thai đã nằm trong ổ bụng.
Chỉ định mổ lấy thai Chỉ định mổ lấy thai từ phía mẹ Do bàng quang–âm đạo, trực tràng–âm đạo mới được phẫu thuật tạo hình. Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn. Cổ tử cung không tiến triển được do cổ tử cung có sẹo cũ xấu, khoét chóp hay cắt đoạn cổ tử cung, mẹ có vết mổ cũ trên tử cung. [9] Chỉ định mổ lấy thai từ phía thai Ngôi bất thường Ngôi mặt cằm ngang và cằm sau, ngôi trán.
Con so ngôi ngang, con rạ ngôi ngang không đủ điều kiện thực hiện xoay thai. Con so ngôi mông, ước lượng trên 3kg hoặc ngôi mông kèm một bất thường khác Suy thai trong chuyển dạ Thai kém phát triển trong tử cung, mạng sống bào thai đang bị đe dọa. Mẹ nhiễm Herpes sinh dục đang tiến triển. [9] Chỉ định mổ lấy thai do phần phụ của thai Nhau tiền đạo trung tâm và phần lớn các trường hợp nhau tiền đạo bán trung tâm.
Nhau bong non, sa dây rốn. [9] Chống chỉ định mổ lấy thai Không có chống chỉ định cho mổ lấy thai, trong nhiều trường hợp cần cân nhắc giữa mổ lấy thai và sinh ngả âm đạo để có được chỉ định tối ưu. Biến chứng của bà mẹ sau mổ lấy thai Phẫu thuật mổ lấy thai không phải là không có biến chứng. Biến chứng xảy ra bao gồm cho cả mẹ và cho cả con.
[19] Biến chứng của mẹ sau mổ lấy thai 3 Thang Long University Library Tỷ lệ chảy máu sẽ gia tăng khi gây mê, gây tê để mổ và do rách thêm đoạn dưới khi lấy thai. Nhiễm trùng thường là nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng ối gây viêm phúc mạc có thể dẫn đến cắt tử cung trong thời gian hậu phẫu. Tai biến phẫu thuật như chạm phải các cơ quan lân cận như ruột, bàng quang, khâu phải niệu quản, dò bàng quang – tử cung, dò bàng quang–âm đạo. Các tai biến do gây mê–hồi sức.
Sẹo mổ trên thân tử cung có thể nứt trong thai kỳ sau. Tỷ lệ này khoảng 1–2% với mổ dọc thân tử cung, nứt khi chưa vào chuyển dạ; khoảng 0,5–1% với mổ ngang đoạn dưới tử cung, nứt khi đã vào chuyển dạ. Lạc nội mạc tử cung, dính ruột, tắc ruột. [9] Biến chứng của con sau mổ lấy thai Thai nhi có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc mê, bị chạm thương trong khi phẫu thuật, hít phải nước ối.
Tiên lượng cho con cũng tùy thuộc vào kỹ thuật lấy thai trong những trường hợp ngôi bất thường. [9] Tỷ lệ mắc bệnh cho trẻ được mổ lấy thai cũng cao hơn so với trẻ đẻ qua đường âm đạo. Một nghiên cứu so sánh trẻ được mổ lấy thai chủ động so với trẻ đẻ qua đường âm đạo thấy rằng ở nhóm trẻ được mổ lấy thai có tỉ lệ tử vong và tỉ lệ thương tổn thần kinh cao hơn 2 lần. Phương pháp phẫu thuật Các phương pháp mổ lấy thai hiện còn đang sử dụng là mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai và mổ lấy thai theo phương pháp cổ điển.
Chăm sóc bà mẹ trước khi mổ lấy thai Chăm sóc về tinh thần và tâm lý của bà mẹ trước khi mổ lấy thai Giải thích cho bà mẹ hiểu việc mổ lấy thai là để cứu con, hoặc để cứu cả mẹ và con hoặc là chỉ để cứu mẹ. Giải thích dựa trên cơ sở chỉ định của bác sĩ, để bà mẹ và gia đình hiểu. Động viên và trấn an bà mẹ. [5] Chăm sóc về chế độ ăn uống trước khi mổ lấy thai Kiểm tra xem thai phụ đã nhịn ăn trước khi mổ hay chưa, nếu thai phụ đã ăn phải báo cho bác sĩ gây mê biết để hút dịch dạ dày trước khi mổ để tránh tai biến trào ngược thức ăn vào đường hô hấp.
Trào ngược là một tai biến trong khi gây mê cực kỳ nguy hiểm, nhưng có thể tránh được khi dạ dày rỗng. [5] 4 Vệ sinh toàn thân và vùng mổ trước khi mổ lấy thai Thụt tháo phân, làm vệ sinh vùng mổ, chú ý vùng bụng dưới rốn, làm vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài. Phủ khăn sạch để che người cho sản phụ. [5] Theo dõi dấu hiệu sinh tồn cho bà mẹ trước khi mổ lấy thai Quan sát màu da, niêm mạc, lấy mạch, đo huyết áp, đo nhiệt độ, đếm nhịp thở, cân thai phụ và ghi vào phiếu theo dõi theo đúng qui định của chuyên môn.
Khi lấy các thông số trên nếu có thấy bất thường phải báo cáo ngay cho bác sĩ để xử trí kịp thời. Đo cơn go tử cung, độ lọt của ngôi thai, nghe tim thai và xem có ra máu âm đạo không rồi ghi vào hồ sơ bệnh án. Chăm sóc bà mẹ sau khi mổ lấy thai 1. Chăm sóc tổng trạng của bà mẹ sau mổ lấy thai Bà mẹ sau mổ cần được theo dõi các vấn đề sau: quan sát màu sắc da, niêm mạc và đo dấu hiệu sinh tồn, ghi lên bảng hồi sức của sản phụ.
Theo dõi toàn trạng, các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật. Trong giờ đầu, mỗi 15 phút theo dõi dấu hiệu sinh tồn 1 lần, giờ tiếp theo 30 phút 1 lần, sau đó thưa dần và những ngày sau theo dõi như thường qui. Theo dõi tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp và tăng tiết đàm, gây ho và khó thở do ứ đàm ở họng. Theo dõi số lượng dịch truyền để phục hồi khối lượng thể tích tuần hoàn theo y lệnh.
Theo dõi số lượng, màu sắc nước tiểu chảy qua ống sonde tiểu. Số lượng nước tiểu phải đo hàng giờ và báo cho phẫu thuật viên, đặc biệt trong những phút đầu, giờ đầu và ngày đầu, để đánh giá lượng dịch truyền và tai biến phẫu thuật thắt hay chạm vào niệu quản hay bàng quang. Thực hiện y lệnh thuốc tiêm hoặc thuốc uống chống nhiễm trùng sau mổ, thuốc giảm đau sau mổ phải đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ theo y lệnh. Chăm sóc vết mổ của bà mẹ sau mổ lấy thai Trong trường hợp bình thường, băng vết mổ khô, không chảy máu thì không cần thay băng trong ngày đầu tiên.
Nếu băng vết mổ thấm máu ướt phải mở ra đánh giá tình trạng chảy máu vết mổ. Nếu chỉ rịn chảy máu ít có thể xử trí bằng băng ép chặt lại, nếu chảy máu nhiều có thể phải khâu tăng cường lại thành bụng. Sau 48 giờ 5 Thang Long University Library mở băng ra đánh giá lại tình trạng vết mổ. Các triệu chứng nhiễm trùng vết mổ thường xuất hiện vào ngày thứ 3 sau mổ.
Cần chú ý quan sát các triệu chứng phù nề, đỏ, nóng và đau quanh vết mổ. Nếu vết mổ có dẫn lưu cần thay băng hàng ngày để theo dõi tình trạng ống dẫn lưu. Thường sau 24 giờ nếu ống dẫn lưu không còn tiết dịch trong hay lẫn hồng (chứng tỏ không còn chảy máu) thì nên rút ống dẫn lưu để tránh nhiễm trùng. Cắt chỉ trước khi ra viện, thường cắt chỉ vào ngày thứ 7 sau mổ.
Chăm sóc về dinh dưỡng cho bà mẹ sau mổ lấy thai Mổ lấy thai không liên quan đến ruột nên khuyến khích sản phụ ăn càng sớm càng tốt. Ăn đủ lượng, đủ chất, không kiêng ăn vô lý. Cho sản phụ ăn uống sớm không chờ trung tiện. Thực hiện cho uống hoặc ăn nhẹ: uống sữa, súp, cháo loãng hoặc uống oresol ngày đầu sau mổ để đảm bảo dinh dưỡng, điện giải và cung cấp nước.
Ngày thứ 2 sau khi trung tiện cho ăn cơm, uống nước bình thường. Lượng nước uống phải đủ cho nhu cầu của mẹ và tạo sữa để cung cấp đủ sữa cho trẻ. Uống đủ nước: thường nhu cầu cho mẹ và con khoảng 1,5–2 lít / ngày. Ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, ăn no.
Theo dõi tình trạng tiêu hóa của bà mẹ sau mổ lấy thai Sau sinh sản phụ thường bị táo bón, sau sinh 3 ngày sản phụ không đi đại tiện được nên khuyên sản phụ ăn uống nhiều hoa quả, thức ăn nhiều chất xơ và đi lại vận động không nên nằm lâu hoặc báo bác sĩ cho y lệnh thuốc nhuận tràng, cho uống ngay một lúc 1 lít đến 1,5 lít nước chín với thuốc để làm loãng phân, tạo cảm giác mót và đi đại tiện được. Phòng ngừa nguy cơ nhiễm trùng tiểu của bà mẹ sau khi rút ống thông niệu đạo bàng quang Ống thông niệu đạo bàng quang thường được rút trong vòng 12–24 giờ sau mổ hoặc thuận tiện hơn là rút vào buổi sáng hôm sau ngày phẫu thuật. Trường hợp nước tiểu có lẫn máu do chạm phải bàng quang trong lúc mổ cần phải lưu thông tiểu cho đến khi nước tiểu trở lại trong hoàn toàn để tránh khả năng bị dò bàng quang về sau. Thông tiểu tại chỗ lưu trên 24 giờ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiểu.
Nhận 6 biết các dấu hiệu nhiễm trùng: tiểu buốt, tiểu gắt hoặc bí tiểu, thường do đặt thông tiểu không đảm bảo vô trùng hoặc sản phụ có tình trạng nhiễm trùng trước đó mà không ghi nhận. Sau khi rút thông tiểu phải theo dõi khả năng tự tiểu của sản phụ cũng như sự xuất hiện cầu bàng quang (khám thấy có khối cầu bàng quang trên xương vệ, đẩy đáy tử cung lên cao trên rốn) xử trí bằng cách đắp ấm, xoa nhẹ bàng quang và khuyến khích sản phụ ngồi tiểu. [24] Vệ sinh vú sớm: vú cần được lau sạch bằng nước ấm trước khi cho bé bú, nên khuyên bà mẹ mặc áo ngực rộng rãi để tránh chèn ép lên tuyến vú để phòng các bệnh thường gặp như nứt kẽ đầu vú, áp xe tuyến vú, viêm tắc tuyến vú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Vệ sinh cơ quan sinh dục hàng ngày: rửa vùng sinh dục ít nhất 3 lần/ngày.
Hướng dẫn dùng băng vệ sinh sạch, đủ thấm, thay băng thường xuyên, nếu băng vệ sinh thấm ướt máu sau 1 giờ phải báo cho nhân viên y tế ngay. Hướng dẫn cách tắm rửa, vệ sinh thân thể, lau người thay đồ sạch, sau sinh 2–3 ngày tắm nhanh bằng nước ấm. Hướng dẫn cách ăn mặc: mặc rộng rãi, sạch sẽ, đủ ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè.Hướng dẫn chế độ nghỉ ngơi, vận động Ngủ tốt đảm bảo sức khỏe để nuôi con, mỗi ngày nên ngủ đủ 8 giờ, nên tôn trọng giấc ngủ trưa.