Chương 1: Cơ sở lý luận QLNN về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện. Chương 2: Thực trạng QLNN về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện QLNN về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH Ở BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN 1.
Dịch vụ khám chữa bệnh và dịch vụ khám chữa bệnh tại tuyến huyện 1. Sự hình thành của dịch vụ khám chữa bệnh KCB là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, DVKCB có một số đặc điểm riêng, đó là: - Mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu CSSK ở các mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- DVKCB là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh, người nhà của người bệnh) thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu cầu KCB nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh, chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động lựa chọn phương pháp điều trị.
- Dịch vụ KCB là loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải mua KCB đây là đặc điểm đặc biệt không giống các loại hàng hóa khác. 11 Trong cơ chế thị trường, nhà sản xuất để có lợi nhuận tối đa, sẽ căn cứ vào nhu cầu và giá cả thị trường để sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Thông qua cơ chế thị trường thực hiện tốt được chức năng của mình, thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn hảo, thông tin đầy đủ và không bị tác động vào các tác động ngoại lai. Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường không thể vận hành một cách hiệu quả.
Các nhà phân tích kinh tế thừa nhận trong thị trường KCB luôn tồn tại các yếu tố “thất bại thị trường”, cụ thể: - Thị trường KCB không phải là thị trường tự do. Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa mãn tự nguyện giữa người mua và người bán. Trong thị trường DVKCB không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định. - DVKCB là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ.
Cụ thể, muốn cung ứng DVKCB cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác, trong thị trường y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo. - Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các chỉ định điều trị, do vậy hầu hết như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các DVKCB.
Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao phi y tế. - DVKCB là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người không trả tiền. Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi 12 nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng các dịch vụ đó thấp.
Lúc này, để đảm bảo đủ cung ứng cho cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính cộng đồng. Do tính chất đặc thù của sức khỏe, dịch vụ CSSK và thị trường CSSK, nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK, nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các DVKCB "công cộng" và dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân cung ứng các dịch vụ y tế tư nhân nhằm bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho mọi người dân, nhất là các đối tượng yếu thế như người nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người già. Trong hệ thống các cơ sở KCB ở Việt Nam hiện nay, bệnh viện tuyến huyện giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc khám bệnh, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân ở cơ sở. Khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh tuyến huyện 1.
Bệnh viện tuyến huyện Bệnh viện được coi là một loại tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ CSSK và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là chẩn đoán, chữa trị bệnh tật cũng như là nơi người ốm dưỡng bệnh và hồi phục sức khỏe. Bệnh viện là một tổ chức phức tạp, có nhiệm vụ phục vụ lợi ích của toàn xã hội qua việc cung cấp các dịch vụ phòng và chữa bệnh bên cạnh chức năng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế. Những bước tiến của xã hội trong thời gian qua đã làm thay đổi cơ bản khái niệm và quan niệm của mọi người về bệnh viện, người dân ý thức được rõ hơn về quyền lợi của mình.
Họ ngày càng đòi hỏi cao hơn với hệ thống bệnh viện. Họ muốn được cung cấp các dịch vụ y tế tốt hơn cả về tay nghề y, bác sỹ và cả thái độ phục vụ người bệnh. Vì thế, việc tổ chức và quản lý bệnh viện cũng phải có thay 13 đổi tương ứng. Quản lý bệnh viện cần thiết phải có sự hỗ trợ của các nhân viên giỏi, sao cho công tác quản lý ấy thực sự hiệu quả để người bệnh có thể tiếp cận các dịch vụ y tế kịp thời.
Muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các bệnh viện phải dựa vào đội ngũ y, bác sỹ giỏi, tận tình. Mạng lưới KCB hệ thống bệnh viện chia làm 3 tuyến:tuyến trung ương,tuyếntỉnh/thànhphốvàtuyếnhuyện/quận. Ngoài ra, còn có các bệnh viện trực thuộc các bộ, ngành khác phục vụ công tác KCB cho cán bộ, công chức, viên chức các ngành và đồng thời kết hợp phục vụ nhân dân. Bệnh viện tuyếnhuyệngồmcác bệnh việnquận, huyện,thịxã là các BVĐKhoặc đa khoa khu vực liên huyện thuộctuyến1 trong hệ thốngbệnh viện, đóngvaitròCSSK banđầuchonhândântrongkhuvực.
Bệnh viện tuyến huyện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc sở y tế tỉnh, thành phố và các ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành. Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp. 14 Bộ y tế Tỉnh uỷ, HĐND-UBND Sở y tế Tỉnh, TP tỉnh TW Huyện uỷ, HĐND-UBND Bệnh viện tuyến huyện huyện Ban giám đốc 1.Phòng chức 2. Khoa cận năng sàng lâm sàng - Phòng - Khoa “Khám - Khoa “xét “KHTH” bệnh” nghiệm, chẩn đoán hình - Phòng “Điều - Khoa “HSCC” ảnh” dưỡng” - Khoa “Nhi” - Khoa - Phòng “TC- - Khoa “YHCT” “dược” HC” - Khoa “Ngoại” …… - Phòng “TC- KT” - Khoa “Phụ sản” ….
Mô hình tổ chức bệnh viện tuyến huyện …… 15 Phần lớn y tế tuyến huyện, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã phát huy được vai trò CSSK ban đầu cho dân, nhất là đối tượng người nghèo, diện chính sách. Đặc trưng của bệnh viện tuyến huyện Sứckhoẻlàvốnquýnhấtcủamỗiconngườivàcủatoànxãhội,là nhântốquantrọngtrongsựnghiệpxâydựngvàbảovệtổquốc.Chămsóc, bảovệsứckhoẻnhândânlànhiệm vụrấtnặngnề nhưng cũngrấtvẻvangmà Đảng, chính phủvà nhândântintưởnggiaotrọngtráchđóchongànhY tế. Mạnglưới y tế tuyếnhuyệnlàtuyếntrựctiếpgần dân nhất,giúpcho ngườidânđượcchămsócsứckhoẻcơbảnvớichiphíthấpnhất,gópphần thựchiệncôngbằngxã hội,xoáđói,giảmnghèo,xâydựngnếpsốngvănhóa. Bệnh việnhuyện thuộctuyếny tế cơsởvớinhiệmvụchủyếulàKCB,xửtríbanđầuđốivớitấtcảcácvấnđềsứckhỏecủ angườidân trênđịabàn.
Vai trò của bệnh viện tuyến huyện trong khám chữa bệnh Bệnh viện tuyến huyện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc sở y tế tỉnh, thành phố và các ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ngành. Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp. * Bệnh viện tuyến huyện có7chứcnăng,nhiệmvụ cơbảnnhưsau: - Cấpcứu- khámbệnh-chữabệnh; - ĐàotạoCBYT; - Nghiêncứukhoahọcvềyhọc; - Chỉđạotuyếndướivềchuyênmôn, kỹthuật; - Phòngbệnh; - Hợptácquốctế; 16 - Quảnlý kinhtếytế. * Bệnh viện tuyến huyện có vai trò cơ bản sau: - Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú.
Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của nhà nước. Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ các bệnh tật thông thường về nội khoa và các trường hợp cấp cứu về ngoại khoa. Tổ chức khám giám định sức khoẻ, giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. Tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến khi vượt quá khả năng của bệnh viện.
- Đào tạo CBYT. Bệnh viện là cơ sở thực hành cho các trường, lớp trung học y tế. Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và cơ sở y tế tuyến dưới để nâng cấp trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý chăm sóc sức khoẻ ban đầu. - Nghiên cứu khoa học về y học.
Tổ chức tổng kết đánh giá các đề tài và chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Tham gia các công trình nghiên cứu về y tế cộng đồng và dịch tễ học trong công tác CSSK ban đầu cấp bộ và cấp cơ sở. Nghiên cứu áp dụng y học cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. - Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật.
Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới (phòng khám đa khoa, y tế cơ sở) thực hiện các pháp đồ chẩn đoán và điều trị. Tổ chức chỉ đạo các xã, phường thực hiện công tác CSSK ban đầu và thực hiện các chương trình y tế địa phương. - Phòng bệnh. Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch.
- Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng.