CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về điều dưỡng 1. Nghiên cứu chung về điều dưỡng Nghiên cứu của Hồ Nguyệt Vi và Phạm Đức Mục (2005) về “Hiện trạng nguồn nhân lực điều dưỡng, những thách thức và tương lai người điều dưỡng Việt Nam” đã cho thấy vị trí và những thành tựu đã đạt được của đội ngũ điều dưỡng trong thời gian qua, tác giả đã khẳng định điều dưỡng là lực lượng tạo ra sự thay đổi tích cực trong hệ thống Y tế. Với số lượng 64.397 điều dưỡng có ở khắp mọi nơi trong hệ thống y tế, cận kề với người bệnh trong bệnh viện, gần gũi với người dân trong cộng đồng.
Trách nhiệm của người điều dưỡng rất đa dạng, đặc biệt là ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa nơi không có bác sỹ. Điều dưỡng là những cán bộ y tế đầu tiên tiếp xúc với người bệnh nghèo ở bệnh viện và người dân ở cộng đồng nên nhiều nước trên thế giới đã chọn người điều dưỡng là công cụ chiến lược để thực hiện chính sách công bằng y tế. Tác giả đã đưa ra được các giải pháp khá cụ thể về phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng. Tuy vậy đề tài cũng chỉ dừng lại ở vấn đề phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng viên.
Nghiên cứu Phạm Đức Mục (2007), điều tra hệ thống và nguồn nhân lực điều dưỡng trưởng bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh năm 2007 cho thấy: trình độ chuyên môn Sau đại học là 1,2%; Đại học là 24,2%; Cao đẳng là 14,9% và Trung cấp 59,7%. Về chuyên ngành được đào tạo: ĐD 82,0%; Hộ sinh 7,1%; Kỹ thuật viên 4,4% khác 6,5%. Đã đào tạo về quản lý điều dưỡng là 63. Về độ tuổi <35 chiếm 12.1%; 26 - 45 tuổi chiếm 41,7%; 46 - 55 chiếm 44,6%; >55 tuổi chiếm 1.
Về thực hiện chức trách nhiệm vụ: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện: tốt 72,3%; trung bình 22,1%; kém 4,1%; không làm 1,5%. Đôn đốc, kiểm tra thực hiện đúng qui trình kỹ thuật và qui chế bệnh viện: tốt 90,0%; trung bình 3,2%; kém 5,2%; không làm 1,5%. Tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ: tốt 62,4%; trung bình 22,5%; kém 9,2%; không làm 5,9%. Tham gia hướng dẫn thực hành cho HS-SV: tốt 35,8%; trung bình 31,4%; kém 26,6%; không làm 6,3%.
Lập kế hoạch mua sắm, kiểm tra sử dụng, bảo quản: tốt 48,0%; trung bình 31,4%; kém 26,6%; không làm 6,6%. Kiểm tra công tác vệ sinh, chống nhiễm khuẩn: tốt 88,2%; trung bình 5,5%; kém 5,2%; không làm 1,1%. Tham gia công tác tổ chức, tuyển dụng: tốt 60,5%; trung bình 24,0%; kém 12,5%; không làm 3,0%. Tham gia nghiên cứu khoa học: tốt 38,0%; trung bình 22,1%; kém luan an 6 34,7%; không làm 5,2%.
Tham gia chỉ đạo tuyến: tốt 45,8%; trung bình 20,3%; kém 22,8%; không làm 5,2%. Định kỳ sơ kết, tổng kết: tốt 62,0%; trung bình 27,5%; kém 8,0%; không làm 2,5%. Tham gia đề xuất các ý kiến liên quan chăm sóc điều dưỡng: tốt 77,9%; trung bình 17,0%; kém 4,1%; không làm 1,1%. Theo nghiên cứu của Đỗ Đình Xuân (2007), cho thấy cả nước có 6.787 ĐDTK đang làm việc tại các bệnh viện công lập trong cả nước (thống kê từ 30 bệnh viện Trung ương và 63 Sở Y tế), trong đó: Điều dưỡng chiếm 78,4%, hộ sinh chiếm 7,4%, Kỹ thuật Y học là 8,2%, còn 6% ĐDTK không có trình độ chuyên ngành là điều dưỡng tham gia quản lý điều dưỡng (y sĩ, dược sĩ).
Về thực trạng năng lực của đội ngũ ĐDTK: 84% ĐDTK tự đánh giá có khả năng hoàn thành từ mức khá trở lên các công việc theo qui định ở các nội dung: tổ chức chăm sóc người bệnh; chỉ đạo công tác vệ sinh khoa, phòng; quản lý nhân lực; quản lý tài sản vật tư. Trình độ chuyên môn của ĐDTK còn ở mức rất thấp: 83,5% là trung cấp, vẫn còn 0,4% là trình độ sơ cấp. Trình độ ngoại ngữ, tin học còn nhiều hạn chế. Chỉ có 54,5% ĐDTK đã tham dự các khoá học về quản lý.
Tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến, có 61,40% đạt từ loại khá trở lên, đặc biệt, có tới 20,2% ĐDTK yếu trong công tác tham gia nghiên cứu khoa học. Thực hiện yếu hoặc không tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học chiếm 24,4%. Vẫn còn 21,1% ĐDTK đạt ở mức trung bình trở xuống trong công tác xây dựng, tổ chức và duy trì công tác chăm sóc toàn diện. ĐDTK yếu hoặc không được tham gia tuyển chọn nhân viên mới chiếm 24,40%.
Điều tra năm 2010 của Phòng Điều dưỡng - Tiết chế, Cục Quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế cho thấy: Nhân lực quản lý điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế ngành điều dưỡng chiếm 92%, trình độ đại học trở lên chiếm 92,3% (04 người trình độ thạc sĩ). Tại các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, kết quả tổng hợp báo cáo từ 57 sở Y tế có 7.791 người điều dưỡng trưởng, trình độ trung cấp chiếm 71,4%, đại học chiếm 18,2%, cao đẳng chiếm 10,3% và có 0,1% trình độ thạc sĩ. Nghiên cứu của Đào Thành (2007) cho rằng trình độ chuyên môn điều dưỡng trưởng toàn quốc: Trung cấp chiếm 83,3%, Đại học 10,1%, chưa đào tạo về quản lý điều dưỡng 52,6%, việc thực hiện nghiệm vụ nghiên cứu khoa học còn yếu, trong đó 7,7% không thực hiện nhiệm vụ này. Theo Nguyễn Thị Như Tú (2007), thực trạng hệ thống ĐDTK tuyến huyện tại tỉnh Bình Định thì trình độ Trung cấp 55%, Cao đẳng, Đại học chiếm 45%, Nam chiếm 45%, nữ 55%, đã được học quản lý điều dưỡng 3 tháng 73%.
Hoạt động nổi bật là: chủ động tham mưu, đề xuất những hoạt động cải thiện chất lượng thực hành; tổ chức đào tạo lại; giám sát tiêm an toàn, chăm sóc người bệnh toàn diện, chống nhiễm khuẩn bệnh viện; tổ chức bình bệnh án; tham gia chỉ đạo luan an 7 tuyến và sử dụng thành thạo vi tính vào công tác quản lý điều dưỡng. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như lãnh đạo xem nhẹ công tác chăm sóc người bệnh, mất cân đối về số lượng người bệnh và nhân lực điều dưỡng; trình độ chuyên môn yếu, thấp; không được tham gia Hội đồng khen thưởng, kỷ luật, tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Trần Thị Châu (2007) cho rằng ĐDTK có trình độ chuyên môn trung cấp chiếm 78,3%; Cử nhân chiếm 21,7%, được đào tạo quản lý điều dưỡng là 41,6%, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý hành chính. Các nghiên cứu đánh giá chất lượng điều dưỡng Chất lượng chăm sóc sức khỏe là một khái niệm đa chiều.
Donabedian (1980) phân biệt ba thành phần của chất lượng chăm sóc sức khỏe: chất lượng kỹ thuật, chất lượng tương tác giữa các đối tượng và tiện nghi. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến hiệu quả chăm sóc trong việc tạo ra lợi ích sức khỏe có thể đạt được. Chất lượng tương tác giữa các đối tượng đề cập đến mức độ đáp ứng các nhu cầu và sở thích của người bệnh. Các tiện nghi bao gồm các tính năng như sự thoải mái của môi trường xung quanh vật lý và các thuộc tính của tổ chức cung cấp dịch vụ.
Sau đó, năm 1988, ông đã đề xuất các cấu trúc, quy trình và kết quả của bộ ba như là một khung đánh giá chất lượng chăm sóc. Cấu trúc đề cập đến các thuộc tính của các cơ sở y tế cung ứng dịch vụ chăm sóc. Nó bao gồm các yếu tố như các nguồn lực như là: nhân viên và thiết bị. Quá trình bao gồm tất cả các hoạt động cung ứng dịch vụ chăm sóc và có liên quan đến sự tương tác trong và giữa nhân viên y tế và người bệnh của Donabedian (1980), Donabedian (1988).
Năm 1990, ông tiếp tục hoàn thiện lý thuyết về chất lượng khi đề xuất 7 thuộc tính quan trọng của chất lượng dịch vụ y tế gồm: (1) hiệu lực: khả năng chăm sóc tốt nhất, để cải thiện sức khỏe; (2) hiệu quả: mức độ đạt được cải thiện sức khỏe có thể đạt được; (3) hiệu suất: khả năng đạt được sự cải thiện sức khỏe lớn nhất với chi phí thấp nhất; (4) sự tối ưu: cân bằng thuận lợi nhất về chi phí và lợi ích; (5) khả năng chấp nhận: sự phù hợp với sở thích của người bệnh về khả năng tiếp cận, mối quan hệ giữa người bệnh và người hành nghề, các tiện nghi, tác dụng chăm sóc và chi phí chăm sóc; (6) tính hợp pháp: sự phù hợp với các ưu đãi xã hội liên quan đến tất cả các điều trên; và (7) công bằng: sự công bằng trong phân phối chăm sóc và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe Donabedian (1990). Gronroos (1984) phân biệt hai loại chất lượng dịch vụ: chất lượng kỹ thuật và chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cốt lõi hoặc kết luan an 8 quả của dịch vụ (nghĩa là những gì được cung cấp và nhận được), trong khi chất lượng chức năng đề cập đến quy trình cung cấp dịch vụ hoặc cách thức khách hàng nhận dịch vụ (nghĩa là dịch vụ được cung cấp). Maxwell (1984) đã xác định sáu khía cạnh của chất lượng: hiệu quả, khả năng chấp nhận, hiệu quả, quyền tiếp cận, công bằng và mức độ phù hợp.
Hulka (1970) và các đồng nghiệp đã sử dụng ba khía cạnh để đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe: mối quan hệ cá nhân tham gia chăm sóc sức khỏe, sự tiện lợi và năng lực chuyên môn Thompson (1983) đã cân nhắc bảy khía cạnh để đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe: kết quả hữu hình, giao tiếp, mối quan hệ giữa các nhân viên và người bệnh, thời gian chờ đợi, quá trình nhập viện và xuất viện, quy trình thăm nom và chăm sóc nhu cầu tôn giáo. Baker (1990) tập trung vào thời gian khám bệnh, chăm sóc chuyên môn và mức độ sâu của mối quan hệ. Tomes (1995) đã sử dụng tám chiều bao gồm sự đồng cảm, sự hiểu biết về bệnh tật, sự tôn trọng lẫn nhau, nhân phẩm, dinh dưỡng, môi trường chăm sóc, và nhu cầu tôn giáo. Camilleri và O'Callaghan (1988) đã xem xét bảy thuộc tính để đo lường chất lượng dịch vụ của bệnh viện: “kĩ thuật và mức độ chuyên nghiệp của chăm sóc”, “cá nhân hóa các dịch vụ chăm sóc”, “giá cả dịch vụ”, “môi trường”, “mức tiện nghi của người bệnh”, “khả năng tiếp cận” và “dinh dưỡng”.
Andaleeb đã sử dụng năm yếu tố để đo lường chất lượng chăm sóc sức khỏe: “giao tiếp”, “chi phí”, “cơ sở vật chất”, “năng lực” và “cách thức cư xử”.