Tổng quan luận án
Tình trạng bí tiểu sau sinh (BTSS) là một rối loạn đường tiểu dưới thường gặp trong sản khoa, với tần suất dao động từ 1,4% đến 24% tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán. Tại miền Nam Việt Nam, các nghiên cứu mô tả ghi nhận tỷ lệ bí tiểu sau sinh tại Bệnh viện Hùng Vương là 12,2% và tại Bệnh viện Từ Dũ là 13,5%, tương đương ước tính khoảng 12.000 sản phụ mắc phải mỗi năm tại hai trung tâm sản khoa lớn này. Đáng chú ý, thể bí tiểu sau sinh không có triệu chứng lâm sàng chiếm khoảng một phần ba tổng số trường hợp. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, ứ đọng nước tiểu quá mức có thể dẫn tới những tổn thương không hồi phục như liệt cơ chóp bàng quang, suy thận cấp hoặc vỡ bàng quang.
Giảm đau sản khoa bằng kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) là một can thiệp phổ biến nhưng đồng thời là yếu tố nguy cơ độc lập làm gia tăng tỷ lệ bí tiểu sau sinh. Tổng quan hệ thống của Cochrane năm 2011 xác nhận nguy cơ bí tiểu sau sinh ở sản phụ có giảm đau sản khoa cao gấp 17 lần so với nhóm không sử dụng (KTC 95%: 4,8 - 60,4). Thể tích bàng quang ứ đọng trên 500 ml ở nhóm này cũng cao gấp 10 lần (KTC 95%: 2,5 - 43,0). Trên thế giới tồn tại hai phương thức chăm sóc bàng quang trong chuyển dạ có giảm đau sản khoa: đặt ống thông tiểu gián đoạn khi bàng quang đầy và đặt ống thông tiểu lưu liên tục. Dù vậy, các nghiên cứu lâm sàng trước đây chưa đưa ra được chứng cứ xác thực về việc phương thức nào kiểm soát nguy cơ bí tiểu sau sinh hiệu quả hơn do cỡ mẫu còn hạn chế hoặc chỉ xem bí tiểu là kết cục phụ.
Tại Việt Nam, tỷ lệ bí tiểu sau sinh ở nhóm sản phụ không có nguy cơ cao đã chiếm đến 13%, cao hơn đáng kể so với mức dưới 4,7% ở nhiều quốc gia. Trong bối cảnh phòng sinh quá tải (trung bình một hộ sinh theo dõi bốn thai phụ trong chuyển dạ hoạt động), việc áp dụng phác đồ thông tiểu gián đoạn tiềm ẩn nguy cơ bỏ sót triệu chứng cầu bàng quang, khiến bàng quang bị căng giãn quá mức và ức chế phản xạ buồn tiểu sau sinh. Hằng tháng, Bệnh viện Hùng Vương ghi nhận 60 đến 90 ca bí tiểu sau sinh có dung tích nước tiểu tồn lưu trên 700 ml (chiếm 1,2% đến 1,5% tổng số sinh), đòi hỏi phải lưu ống thông tiểu tối thiểu 48 giờ và kéo dài thời gian nằm viện. Do đó, việc xác lập một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên để so sánh hai phương pháp chăm sóc bàng quang là yêu cầu cấp thiết của thực hành lâm sàng.
Giả thuyết cơ sở:
Thông tiểu lưu liên tục trong chuyển dạ ở sản phụ có giảm đau sản khoa (nhóm đối tượng nhận nhiều dịch truyền tĩnh mạch và bị ức chế cảm giác bàng quang) giúp làm trống bàng quang liên tục, giảm thiểu các sang chấn căng giãn cơ chóp bàng quang. Ngược lại, phương pháp thông tiểu gián đoạn trong điều kiện theo dõi quá tải dễ dẫn đến ứ đọng nước tiểu, mất phản xạ buồn tiểu và làm tăng tỷ lệ bí tiểu sau sinh.
Câu hỏi nghiên cứu:
Tỉ lệ bí tiểu sau sinh 6 giờ ở nhóm thông tiểu lưu có khác với tỷ lệ này của nhóm thông tiểu gián đoạn trong giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng hay không, khi đánh giá dung tích nước tiểu tồn lưu qua scan bàng quang với ngưỡng chẩn đoán từ 400 ml trở lên?
Mục tiêu nghiên cứu:
- So sánh tỉ lệ bí tiểu sau sinh 6 giờ ở nhóm thông tiểu lưu và nhóm thông tiểu gián đoạn với dung tích nước tiểu tồn lưu bàng quang từ 400 ml trở lên ở sản phụ có làm giảm đau sản khoa.
- So sánh tỉ lệ bí tiểu sau sinh 6 giờ ở nhóm thông tiểu lưu và nhóm thông tiểu gián đoạn với dung tích nước tiểu tồn lưu bàng quang từ 150 ml trở lên ở sản phụ có làm giảm đau sản khoa.
- So sánh tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu có triệu chứng từ ống thông tiểu ở hai nhóm ở sản phụ có làm giảm đau sản khoa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Dân số mục tiêu: Toàn bộ sản phụ đến sinh và có thực hiện giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng tại Bệnh viện Hùng Vương.
- Dân số nghiên cứu: Sản phụ đơn thai, ngôi đầu chuyển dạ tại khoa Sinh, có làm giảm đau sản khoa và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Khoa Sinh và các khoa hậu sản, Bệnh viện Hùng Vương, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến sinh lý bài niệu, cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán và các chiến lược can thiệp phòng ngừa bí tiểu sau sinh:
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và dịch tễ học
- Sinh lý và điều hòa thần kinh bài niệu: Bàng quang có thể tích chứa bình thường 300 - 600 ml. Cảm giác mót tiểu xuất hiện khi thể tích đạt 250 - 350 ml. Hoạt động tiểu tiện chịu sự kiểm soát phối hợp của trung tâm Budge tại tủy cùng (S2 - S4), dây thần kinh chậu (sợi phó giao cảm chi phối cơ detrusor), thần kinh thẹn (chi phối cơ thắt ngoài) và trung tâm tiểu tiện ở cầu não, vỏ não. Dung tích nước tiểu tồn lưu (PVR) sau khi tiểu hết ở người bình thường dao động dưới 30 ml (hoặc dưới 25% dung tích bàng quang).
- Định nghĩa và phân loại BTSS: Yip (1997) là tác giả xác lập việc phân định hai thể bí tiểu: thể lâm sàng (không thể tự tiểu trong vòng 6 giờ sau sinh) và thể tiềm ẩn (tự tiểu được nhưng dung tích nước tiểu tồn lưu đo bằng siêu âm hoặc thông tiểu từ 150 ml trở lên). Về ngưỡng chẩn đoán PVR, các tác giả quốc tế từng áp dụng nhiều điểm cắt như 150 ml (Andolf 1994, Ismail & Emery 1997, Liang 2002, Kekre 2011, Mulder 2016), 400 ml (Marie Blomstrand 2015, Weatherall 2004) và 500 ml (Mulder 2016).
- Yếu tố nguy cơ của BTSS:
- Giai đoạn hai của chuyển dạ kéo dài: Nghiên cứu của Stephansson (2016) trên 72.573 sản phụ cho thấy nguy cơ bí tiểu sau sinh tăng theo thời gian rặn sinh: 1 - 2 giờ có OR hiệu chỉnh = 1,67 (KTC 95%: 1,32 - 2,12); 2 - 3 giờ có OR = 2,26 (KTC 95%: 1,77 - 2,90); từ 4 giờ trở lên có OR = 3,79 (KTC 95%: 2,89 - 4,96).
- Sinh thủ thuật hỗ trợ: Mulder (2012) báo cáo sinh giúp làm tăng nguy cơ bí tiểu gấp 4,52 lần (KTC 95%: 3,33 - 6,14). Tại Bệnh viện Hùng Vương, khảo sát của Yen (2015) trên 246 ca sinh giúp ghi nhận tỷ lệ BTSS với PVR ≥ 150 ml lên đến 71,5%.
- Sinh con so và tổn thương tầng sinh môn: Con so làm tăng nguy cơ gấp 2,4 - 2,6 lần; thủ thuật cắt tầng sinh môn làm tăng nguy cơ gấp 4,8 lần (Mulder 2012).
- Giảm đau sản khoa: Gây tê ngoài màng cứng ức chế dẫn truyền cảm giác căng bàng quang qua rễ thần kinh cùng S2 - S4, kết hợp việc truyền dịch phòng ngừa tụt huyết áp làm bàng quang nhanh đầy. Weininger (2006) ghi nhận trung vị PVR trong chuyển dạ ở nhóm gây tê ngoài màng cứng là 240 ml so với 45 ml ở nhóm không gây tê (p < 0,001), với 83% sản phụ cần thông tiểu gián đoạn. Richard Foon (2007) xác định thời gian hồi phục cảm giác buồn tiểu sau sinh ở nhóm gây tê ngoài màng cứng kéo dài 234 phút, gấp đôi nhóm sinh thường (122 phút).
Các hướng nghiên cứu về công cụ chẩn đoán
Thăm khám lâm sàng sờ nắn cầu bàng quang có độ nhạy và độ đặc hiệu hạn chế. Khảo sát của Mark Weatherall (2004) chỉ ra rằng với thể tích bàng quang 400 - 600 ml, độ nhạy của khám tay là 81% nhưng độ đặc hiệu chỉ đạt 50%. Siêu âm hai chiều truyền thống cho độ chính xác cao nhưng đòi hỏi bác sĩ chuyên khoa và thiết bị cố định. Ngược lại, máy quét bàng quang 3D tự động (Bladder scanner BVI 3000) sử dụng sóng siêu âm tần số 2 MHz tái dựng thể tích mà không cần hiển thị trực tiếp hình ảnh giải phẫu. Nghiên cứu của Al-Shaikh (2009) chứng minh BVI 3000 có hệ số tương quan r = 0,79 so với đo bằng ống thông tiểu trực tiếp (KTC 95%: 0,70 - 0,85, p < 0,001), với độ lệch trung bình là 12,9 ml. Giới hạn kỹ thuật của dòng máy này là dung tích đo tối đa đạt 1.000 ml (các giá trị lớn hơn được hiển thị mặc định là >999 ml).
Các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trước đây
Y văn quốc tế ghi nhận năm thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng so sánh phương pháp thông tiểu lưu và thông tiểu gián đoạn trong chuyển dạ có gây tê ngoài màng cứng, được tác giả tổng hợp tại Bảng 1.7 của luận án:
| Nghiên cứu |
Cỡ mẫu (N) |
Dân số nghiên cứu |
Mục tiêu chính |
Tỷ lệ BTSS (Lưu vs Gián đoạn) |
Tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu (Lưu vs Gián đoạn) |
Thời gian giai đoạn hai (Lưu vs Gián đoạn) |
| Evron (2008) |
209 |
Con so, đủ tháng, chuyển dạ giai đoạn hoạt động, giảm đau ngoài màng cứng |
So sánh thời gian chuyển dạ giai đoạn hai |
0% so với 0,92% |
28,4% so với 29,0% (p = 0,90) |
Kéo dài hơn ở nhóm thông tiểu lưu (do dùng nhiều thuốc tê hơn) |
| Coleen Rivard (2012) |
138 |
Đơn thai, ngôi đầu, đủ tháng, gây tê ngoài màng cứng |
So sánh thời gian chuyển dạ giai đoạn hai |
Không báo cáo |
Không báo cáo |
10,43 ± 4,91 so với 11,23 ± 4,08 phút |
| Barbara Wilson (2015) |
123 |
Đơn thai, ngôi đầu, chuyển dạ tự nhiên hoặc khởi phát, gây tê ngoài màng cứng |
Đánh giá thời gian giai đoạn hai và kết cục đường niệu |
Không báo cáo |
4,8% (3 ca) so với 2,6% (1 ca) (p > 0,05) |
60 so với 58 phút |
| Lauren Millet (2012) |
170 |
Con so, thai đủ tháng, ngôi đầu, gây tê ngoài màng cứng |
So sánh tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng |
Không báo cáo |
1,5% so với 8,9% (p < 0,01) |
121,0 ± 89,4 so với 131,9 ± 87,5 phút |
| Abeer Suleiman (2017) |
184 |
Đơn thai, con so, đủ tháng, chuyển dạ có gây tê ngoài màng cứng |
Đánh giá thời gian chuyển dạ giai đoạn hai |
4,4% (4 ca) so với 3,2% (3 ca) |
13,3% (12 ca) so với 21,3% (20 ca) |
105 ± 72 so với 75 ± 52 phút |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Trong năm thử nghiệm lâm sàng nêu trên, biến số bí tiểu sau sinh chỉ xuất hiện dưới dạng mục tiêu phụ (như trong nghiên cứu của Evron và Suleiman) với cỡ mẫu nhỏ, không đủ năng lực thống kê để xác định sự khác biệt có ý nghĩa. Chưa có công trình nào sử dụng tỷ lệ bí tiểu sau sinh được đo lường khách quan bằng máy quét bàng quang làm kết cục chính. Hơn nữa, toàn bộ các nghiên cứu trước đó đều được tiến hành tại các quốc gia phát triển, nơi tỷ lệ hộ sinh trên sản phụ là 1:1. Luận án của Phan Thị Hằng giải quyết trực tiếp khoảng trống này bằng một thử nghiệm lâm sàng cỡ mẫu lớn (1.090 sản phụ) tại một bệnh viện sản khoa tuyến cuối của Việt Nam, kiểm định trực tiếp hiệu quả phòng ngừa bí tiểu sau sinh của hai phương pháp thông tiểu trong điều kiện nguồn lực y tế thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
Nghiên cứu dựa trên mô hình sinh lý - bệnh học về kiểm soát bài niệu trong chu sinh. Tác động ức chế của thuốc tê nhóm amide (Bupivacaine) phối hợp opioid lên dẫn truyền thần kinh tủy sống làm giảm trương lực cơ detrusor và làm suy giảm cảm giác căng bàng quang. Tình trạng này kết hợp với lượng dịch truyền tĩnh mạch duy trì làm thể tích nước tiểu tích tụ nhanh chóng trong chuyển dạ.
Điểm cắt chẩn đoán bí tiểu sau sinh được xác lập dựa trên các căn cứ khoa học:
- Ngưỡng chính 400 ml: Tương ứng với dung tích bàng quang tối đa bình thường ở phụ nữ châu Á khi đi tiểu (trung bình 360 ml, dao động 120 - 570 ml theo tài liệu số 44). Đây cũng là ngưỡng thể tích bàng quang trung vị khi sản phụ xuất hiện cảm giác mót tiểu thực sự sau sinh 6 giờ (386,5 ml theo tài liệu số 122). Ở ngưỡng này, máy scan bàng quang đạt độ nhạy tối ưu 76%, và khám sờ cầu bàng quang đạt độ nhạy 81%, độ đặc hiệu 56%. Theo hướng dẫn của Yip, dung tích nước tiểu tồn lưu từ 400 ml trở lên đòi hỏi can thiệp đặt ống thông giải áp ngay lập tức để tránh giãn cơ chóp bàng quang quá mức.
- Ngưỡng phụ 150 ml: Dùng để đánh giá thể bí tiểu tiềm ẩn theo phân loại kinh điển của Yip (1997).
Thiết kế nghiên cứu và can thiệp thực tế
Luận án áp dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, không mù, hai nhóm song song (Open-label Randomized Controlled Trial).
- Nhóm can thiệp (Thông tiểu lưu): Sản phụ được đặt ống thông tiểu Foley hai nhánh cỡ 14 Fr có gắn túi chứa nước tiểu kín ngay sau khi hoàn tất thủ thuật gây tê ngoài màng cứng giảm đau. Ống thông được lưu liên tục trong suốt quá trình chuyển dạ và được rút bỏ (sau khi tháo bóng chèn) ngay trước thời điểm sản phụ bắt đầu rặn sinh.
- Nhóm chứng (Thông tiểu gián đoạn): Áp dụng quy trình chăm sóc hiện hành tại Bệnh viện Hùng Vương. Nữ hộ sinh theo dõi, thăm khám cầu bàng quang mỗi 2 - 4 giờ. Khi sờ thấy cầu bàng quang mà sản phụ không thể tự tiểu, hộ sinh tiến hành đặt ống thông Nelaton cỡ 14 Fr để tháo nước tiểu gián đoạn, thao tác này có thể lặp lại nhiều lần trong chuyển dạ nếu bàng quang tiếp tục đầy.
Quy trình thu thập số liệu và công cụ đo lường
Tại thời điểm 6 giờ sau khi sinh, toàn bộ sản phụ ở cả hai nhóm được hướng dẫn tự đi tiểu. Ngay sau khi sản phụ tiểu xong, nhân viên y tế sử dụng máy quét bàng quang tự động Bladder scanner BVI 3000 (hãng Verathon chế tạo) để đo dung tích nước tiểu tồn lưu trong bàng quang.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán kết cục chính: PVR đo qua máy scan ≥ 400 ml.
- Tiêu chuẩn chẩn đoán kết cục phụ: PVR đo qua máy scan ≥ 150 ml; nhiễm khuẩn niệu có triệu chứng (được xác định khi sản phụ có biểu hiện tiểu buốt, tiểu rắt, sốt hoặc cấy nước tiểu có vi khuẩn phát triển trên 10^5 khúm/ml).
Tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ
- Tiêu chuẩn chọn vào: Sản phụ đơn thai, chuyển dạ ngã âm đạo, ngôi đầu, tuổi thai đủ tháng, có chỉ định và đồng ý thực hiện giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng, tự nguyện ký biên bản đồng thuận tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động; có sẹo mổ cũ trên tử cung; tiền sử nghiện thuốc lá; có bệnh lý đường tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn niệu trong vòng 2 tuần trước khi thu nhận; có các chỉ định bệnh lý bắt buộc phải lưu thông tiểu liên tục để theo dõi lượng nước tiểu (tiền sản giật nặng, bệnh lý tim mạch - nội khoa nặng, băng huyết sau sinh nặng cần truyền máu).
Phương pháp tính cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức so sánh hai tỷ lệ độc lập cho thử nghiệm lâm sàng:
$$n = \frac{\left( Z_{1-\alpha/2} \sqrt{2\bar{p}(1-\bar{p})} + Z_{1-\beta} \sqrt{p_1(1-p_1) + p_2(1-p_2)} \right)^2}{(p_2 - p_1)^2}$$
Trong đó:
- Sai lầm loại I: $\alpha = 0,05$ tương ứng $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$.
- Sai lầm loại II: $\beta = 0,20$ (lực mẫu đạt 80%) tương ứng $Z_{1-\beta} = 0,84$.
- Tỷ lệ bí tiểu sau sinh kỳ vọng ở nhóm can thiệp (thông tiểu lưu): $p_1 = 0,185$.
- Tỷ lệ bí tiểu sau sinh kỳ vọng ở nhóm chứng (thông tiểu gián đoạn): $p_2 = 0,122$.
- Tỷ lệ trung bình: $\bar{p} = (p_1 + p_2) / 2$.
Cỡ mẫu tính toán lý thuyết yêu cầu tối thiểu là $n_1 = n_2 = 545$ sản phụ cho mỗi nhánh, tổng cộng 1.090 sản phụ cho toàn bộ nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày chi tiết về giải phẫu học hệ tiết niệu dưới, hoạt động của cơ thắt vân và cơ detrusor dưới sự phân bố của hệ thần kinh thực vật và tủy cùng. Tác giả tổng thuật các định nghĩa bí tiểu sau sinh từ các nghiên cứu kinh điển của Andolf, Demaria, Yip, Ching-Chung, Liang, Kekre và Mulder, làm rõ sự khác biệt giữa bí tiểu lâm sàng và tiềm ẩn. Chương 1 phân tích sâu cơ chế tác động của gây tê ngoài màng cứng: thuốc tê ức chế các sợi thần kinh cảm giác truyền về từ bàng quang, làm mất phản xạ co bóp tống xuất nước tiểu, đồng thời làm tăng thời gian phục hồi cảm giác mót tiểu lên 234 phút. Các biến chứng nghiêm trọng của bí tiểu phát hiện muộn được điểm lại qua các ca lâm sàng cụ thể trong y văn như vỡ bàng quang sau sinh thường (Png K.) hoặc sau sinh forceps (Baheti V.), hình thành dịch ổ bụng và suy thận cấp. Chương này cũng phân tích kết quả chương trình can thiệp năm 2012 - 2013 tại Bệnh viện Hùng Vương (Bảng 1.5), chứng minh việc nhắc nhở sản phụ tự tiểu mỗi 2 - 4 giờ đã làm giảm số ca bí tiểu bàng quang trên 700 ml từ 61 trường hợp xuống 40 trường hợp. Cuối chương, tác giả so sánh ưu khuyết điểm của hai phương pháp thông tiểu (Bảng 1.6) và phân tích năm thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên thế giới (Bảng 1.7), khẳng định sự cần thiết phải thực hiện một RCT đánh giá trực tiếp tỷ lệ bí tiểu sau sinh.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức thử nghiệm lâm sàng tại Bệnh viện Hùng Vương từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2015. Tác giả trình bày sơ đồ thu nhận đối tượng, quy trình phân bổ ngẫu nhiên sản phụ vào hai nhánh can thiệp (ống thông Foley 14) và nhóm chứng (ống thông Nelaton 14). Chương này chuẩn hóa quy trình kỹ thuật đo dung tích nước tiểu tồn lưu bằng máy quét bàng quang BVI 3000 tại thời điểm 6 giờ sau sinh, quy định cụ thể tư thế nằm, vị trí đặt đầu dò trên xương mu và lượng gel tiếp xúc. Chương 2 thiết lập các bảng định nghĩa biến số nghiên cứu (Bảng 2.2), quy định các tiêu chuẩn giám sát tính tuân thủ quy trình của hộ sinh tại phòng sinh, các tiêu chí đạo đức y sinh học (bảo mật thông tin, quyền rút lui của đối tượng, xử trí tai biến) và xây dựng kế hoạch phân tích kết quả qua hai giai đoạn: phân tích giữa kỳ và phân tích cuối kỳ.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Cấu trúc kết quả nghiên cứu được tác giả trình bày qua hệ thống 19 bảng số liệu và các biểu đồ phân tích:
- Phân tích thu nhận và các trường hợp loại trừ: Bảng 3.1 và Bảng 3.4 ghi nhận chi tiết các trường hợp bị loại khỏi nghiên cứu ở giai đoạn giữa kỳ và cuối kỳ (chuyển mổ lấy thai cấp cứu vì suy thai, chuyển dạ ngưng tiến triển, chỉ định mổ vì lý do sản khoa khác). Bảng 3.3 tổng kết các lý do không thực hiện được scan bàng quang tại thời điểm 6 giờ.
- Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu: Bảng 3.2, Bảng 3.5 và Bảng 3.7 chứng minh sự tương đồng giữa hai nhóm nghiên cứu về các đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn), đặc điểm sản khoa trước sinh (chỉ số BMI, tuổi thai, độ mở cổ tử cung khi bắt đầu gây tê ngoài màng cứng, liều lượng thuốc tê sử dụng).
- Thực hành can thiệp tại phòng sinh: Bảng 3.6 và Biểu đồ 4.1 phản ánh số lần thông tiểu gián đoạn ở nhóm chứng và thể tích nước tiểu trung bình dẫn lưu được; phân tích tương quan giữa số lần đặt thông tiểu Nelaton với tổng thời gian giảm đau sản khoa. Bảng 3.15 ghi nhận cảm giác của sản phụ sau can thiệp đặt ống thông (mức độ đau, khó chịu, vướng víu).
- Kết cục sản khoa và chuyển dạ: Bảng 3.8 và Bảng 3.9 so sánh các đặc điểm sau sinh giữa hai nhóm, bao gồm tỷ lệ mổ sinh phát sinh trong chuyển dạ, tỷ lệ sinh giúp bằng dụng cụ, tổn thương rách tầng sinh môn và trung vị thời gian giai đoạn hai của chuyển dạ (Biểu đồ 2.5).
- Kết cục chính và kết cục phụ: Bảng 3.10 và Bảng 3.11 công bố tỷ lệ bí tiểu sau sinh tại thời điểm 6 giờ với ngưỡng cắt PVR ≥ 400 ml giữa nhóm thông tiểu lưu và nhóm thông tiểu gián đoạn. Bảng 4.1 cung cấp số liệu sau khi hiệu chỉnh các trường hợp xếp nhầm nhóm can thiệp (phân tích theo ý định điều trị - ITT và phân tích theo đề cương - Per-protocol). Bảng 3.13 phân tích tỷ lệ bí tiểu tại nhiều ngưỡng cắt dung tích khác nhau (150 ml, 200 ml, 300 ml, 400 ml, 500 ml).
- Các kết cục lâm sàng liên quan: Bảng 3.12 trình bày kết cục điều trị tại khoa hậu sản (số ca cần đặt lại ống thông tiểu lưu 24 - 48 giờ, tỷ lệ phải tập tiểu). Bảng 3.14 và Biểu đồ 2.3 mô tả mối liên quan giữa dung tích nước tiểu tồn lưu với lượng máu mất và tỷ lệ băng huyết sau sinh. Bảng 3.16 và Bảng 3.17 đối chiếu kích thước cầu bàng quang sờ được trên lâm sàng với dung tích đo bằng máy scan (Biểu đồ 2.6). Bảng 3.18 thực hiện hồi quy đa biến phân tích các yếu tố độc lập ảnh hưởng lên chẩn đoán bí tiểu sau sinh ngưỡng 400 ml. Bảng 3.19 tổng hợp toàn bộ các kết cục nghiên cứu chính, phụ và biến cố bất lợi.
Chương 4: Bàn luận
Chương bàn luận gồm 16 tiểu mục phân tích toàn diện các khía cạnh của thử nghiệm:
- Tác giả thảo luận kết quả phân tích giữa kỳ (4.1) và tóm tắt các phát hiện cốt lõi (4.2). Phân tích sự cân bằng về đặc điểm cơ bản (4.3) khẳng định sự thành công của quy trình phân bổ ngẫu nhiên (4.10).
- Về cơ chế tác động (4.4), tác giả giải thích sự khác biệt giữa việc duy trì bàng quang rỗng liên tục bằng ống thông Foley so với phương pháp thông tiểu gián đoạn Nelaton trong điều kiện sản phụ truyền lượng lớn dịch tĩnh mạch nhưng mất cảm giác mót tiểu.
- Luận giải chi tiết về kết cục chính (4.5) và kết cục phụ (4.6), đối chiếu trực tiếp với các thử nghiệm của Evron, Rivard, Wilson, Millet và Suleiman. Phân tích các kết cục bất lợi (4.8) như nhiễm khuẩn niệu, sang chấn niệu đạo và thời gian rặn sinh.
- Tác giả phân tích thực trạng chăm sóc bàng quang tại Bệnh viện Hùng Vương (4.11), nêu rõ các rào cản và thuận lợi khi triển khai phác đồ thông tiểu gián đoạn so với thông tiểu lưu trong điều kiện áp lực công việc của điều dưỡng, hộ sinh.
- Đánh giá giá trị nội tại (4.12) và giá trị ngoại suy (4.13) của nghiên cứu; cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích lâm sàng (4.14); chỉ ra các hạn chế cố hữu của nghiên cứu (4.15) và khẳng định khả năng chuyển giao, áp dụng kết quả vào các cơ sở sản phụ khoa tại Việt Nam (4.16).
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả nghiên cứu chính
- Luận án đã hoàn thành thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trên quy mô mẫu dự kiến 1.090 sản phụ có giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng tại Bệnh viện Hùng Vương, so sánh trực tiếp hai nhánh can thiệp thông tiểu lưu Foley và thông tiểu gián đoạn Nelaton.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tỷ lệ bí tiểu sau sinh 6 giờ ở ngưỡng chẩn đoán bệnh lý (PVR ≥ 400 ml đo bằng máy scan bàng quang) giữa hai phương thức chăm sóc bàng quang trong chuyển dạ.
- Xác định tỷ lệ bí tiểu tiềm ẩn ở ngưỡng PVR ≥ 150 ml, đồng thời đối chiếu độ chính xác giữa phương pháp sờ nắn cầu bàng quang bằng tay với kết quả đo thể tích qua máy quét 3D tự động.
- Đo lường và so sánh tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu có triệu chứng phát sinh từ hai kỹ thuật đặt ống thông tiểu trên sản phụ có giảm đau sản khoa.
- Đánh giá ảnh hưởng của phương thức đặt ống thông tiểu lên tiến trình chuyển dạ, bao gồm thời gian giai đoạn hai, tỷ lệ mổ lấy thai, tỷ lệ sinh giúp và biến chứng băng huyết sau sinh.
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Đây là thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên đầu tiên tại Việt Nam giải quyết trực tiếp câu hỏi nghiên cứu về hiệu quả phòng ngừa bí tiểu sau sinh của thông tiểu lưu so với thông tiểu gián đoạn trên nhóm sản phụ có gây tê ngoài màng cứng, với kết cục chính được đo lường khách quan bằng máy scan bàng quang.
- Luận án làm rõ cơ sở lý luận của việc lựa chọn điểm cắt dung tích nước tiểu tồn lưu 400 ml làm tiêu chuẩn can thiệp tích cực trong sản khoa (dựa trên thể tích bàng quang tối đa của phụ nữ châu Á và ngưỡng xuất hiện cảm giác mót tiểu sau sinh), thay vì chỉ dựa vào các triệu chứng cơ năng vốn thường bị che lấp bởi thuốc tê.
- Bổ sung dữ liệu khoa học về mối tương quan giữa thể tích cầu bàng quang trên lâm sàng, kết quả quét siêu âm 3D và các yếu tố nguy cơ phối hợp (thời gian chuyển dạ giai đoạn hai, sinh thủ thuật, cắt tầng sinh môn).
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để các bệnh viện chuyên khoa phụ sản tại Việt Nam đánh giá lại và chuẩn hóa quy trình chăm sóc bàng quang cho sản phụ có giảm đau sản khoa, đặc biệt trong bối cảnh nhân lực hộ sinh phòng sinh bị quá tải.
- Kiến nghị đưa kỹ thuật quét bàng quang bằng máy siêu âm xách tay chuyên dụng vào quy trình chăm sóc thường quy sau sinh nhằm phát hiện sớm bí tiểu không triệu chứng, giảm thiểu can thiệp đặt ống thông tiểu không cần thiết và ngăn chặn các biến chứng bàng quang muộn.
- Đề xuất quy trình phân tầng xử trí bí tiểu sau sinh: theo dõi tập tiểu đối với dung tích nước tiểu tồn lưu dưới 400 ml và chủ động thông tiểu giải áp kịp thời khi thể tích tồn lưu vượt quá 400 ml.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Thiết kế mở không làm mù: Do bản chất can thiệp thực thể của ống thông tiểu (ống thông Foley nối túi lưu nước tiểu liên tục khác biệt hoàn toàn với ống Nelaton đặt tháo ngắt quãng), nghiên cứu không thể làm mù đối với sản phụ và nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc tại phòng sinh.
- Giới hạn kỹ thuật của thiết bị đo: Máy quét bàng quang Bladder scanner BVI 3000 có ngưỡng đo thể tích tối đa là 1.000 ml; các trường hợp ứ đọng nước tiểu vượt mức này chỉ hiển thị chỉ số chung là >999 ml. Độ chính xác của máy có thể bị nhiễu bởi thành bụng dày ở sản phụ béo phì, sẹo phẫu thuật cũ vùng hạ vị hoặc sự hiện diện của tử cung co hồi chứa sản dịch.
- Phạm vi đánh giá nhiễm khuẩn niệu: Nghiên cứu chủ yếu theo dõi và ghi nhận các trường hợp nhiễm khuẩn đường tiết niệu có triệu chứng lâm sàng rõ rệt trong thời gian nằm viện ngắn tại khoa hậu sản; chưa thực hiện cấy vi sinh nước tiểu thường quy cho toàn bộ cỡ mẫu để tầm soát thể nhiễm khuẩn không triệu chứng sau xuất viện.
- Địa bàn nghiên cứu: Thử nghiệm được tiến hành đơn trung tâm tại Bệnh viện Hùng Vương, do đó các đặc điểm về thực hành sản khoa và quy trình chăm sóc mang tính chất đặc thù của cơ sở này.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Thực hiện các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm tại nhiều tuyến bệnh viện sản khoa khác nhau nhằm kiểm định khả năng ngoại suy của phác đồ chăm sóc.
- Thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc dài hạn (ở thời điểm 6 tuần, 6 tháng và sau 1 năm) để đánh giá chức năng sàn chậu và các rối loạn tiểu tiện kéo dài (tiểu không kiểm soát, bàng quang tăng hoạt) ở những sản phụ từng bị bí tiểu sau sinh.
- Triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế y tế (chi phí - hiệu quả) giữa chi phí trang bị máy quét bàng quang, chi phí vật tư ống thông với chi phí điều trị các biến chứng bí tiểu kéo dài và kéo dài ngày nằm viện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống y tế:
- Bác sĩ Sản phụ khoa và Gây mê hồi sức: Tham khảo cơ chế tương tác giữa kỹ thuật giảm đau ngoài màng cứng với phản xạ bài niệu, các dữ liệu về yếu tố nguy cơ (chuyển dạ giai đoạn hai kéo dài, sinh giúp, cắt tầng sinh môn) để phối hợp chỉ định phương thức kiểm soát bàng quang an toàn, chủ động phòng ngừa biến chứng tổn thương cơ chóp bàng quang.
- Nghiên cứu sinh, học viên chuyên khoa Sản phụ khoa và Niệu phụ khoa: Cung cấp mô hình chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu can thiệp: thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), cách thức tính toán cỡ mẫu cho hai tỷ lệ độc lập, quy trình phân bổ ngẫu nhiên, tiêu chuẩn kiểm soát biến số nhiễu và kỹ thuật ứng dụng phương tiện chẩn đoán không xâm lấn trong nghiên cứu lâm sàng.
- Nữ hộ sinh và điều dưỡng tại các khoa Sinh, khoa Hậu sản: Ứng dụng trực tiếp quy trình theo dõi lượng nước tiểu, phác đồ nhắc nhở sản phụ tự tiểu mỗi 2 - 4 giờ, kỹ năng phối hợp giữa thăm khám cầu bàng quang bằng tay và quét bàng quang bằng máy BVI 3000 để nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ sau sinh.
- Nhà quản lý y tế và lãnh đạo bệnh viện chuyên khoa: Cung cấp số liệu thực chứng phục vụ công tác xây dựng phác đồ điều trị, quy trình kỹ thuật chuẩn hóa cấp cơ sở và định hướng đầu tư trang thiết bị đo niệu không xâm lấn nhằm tối ưu hóa an toàn người bệnh và giảm tải áp lực công việc cho nhân viên y tế phòng sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Bí tiểu sau sinh trong luận án được phân loại và định nghĩa cụ thể như thế nào?
Luận án áp dụng cách phân loại của Yip (1997), chia bí tiểu sau sinh thành hai thể:
- Bí tiểu sau sinh thể lâm sàng: Sản phụ hoàn toàn không thể tự đi tiểu được trong vòng 6 giờ sau khi sinh ngã âm đạo, hoặc có triệu chứng đau tức vùng hạ vị kèm bí tiểu buộc phải đặt ống thông giải áp trong vòng 24 giờ đầu sau sinh.
- Bí tiểu sau sinh thể tiềm ẩn: Sản phụ có thể tự đi tiểu được nhưng dung tích nước tiểu tồn lưu (PVR) đo được ngay sau khi tiểu xong từ 150 ml trở lên (đo bằng máy scan bàng quang hoặc đặt ống thông tiểu) tại thời điểm 6 giờ sau sinh.
2. Vì sao tác giả lựa chọn ngưỡng dung tích nước tiểu tồn lưu từ 400 ml trở lên làm kết cục chính?
Tác giả lựa chọn ngưỡng cắt 400 ml dựa trên bốn căn cứ khoa học:
- Thể tích này tương đương với dung tích nước tiểu tối đa bình thường trong mỗi lần đi tiểu của phụ nữ châu Á (trung bình 360 ml, dao động 120 - 570 ml).
- Nghiên cứu sinh lý ghi nhận cảm giác mót tiểu thực sự ở sản phụ sau sinh 6 giờ xuất hiện khi thể tích bàng quang đạt trung bình 386,5 ml, với dung tích nước tiểu tối đa trung vị là 400 ml.
- Máy quét bàng quang Bladder scanner đạt độ nhạy tối ưu 76% trong phát hiện nước tiểu tồn lưu khi bàng quang chứa từ 400 ml trở lên.
- Khi dung tích bàng quang đạt từ 400 ml, thao tác khám sờ nắn cầu bàng quang trên xương mu bằng tay đạt độ nhạy 81% và độ đặc hiệu 56%. Đồng thời, theo hướng dẫn của Yip, thể tích tồn lưu từ 400 ml là chỉ định bắt buộc phải đặt ống thông giải áp ngay để tránh tổn thương mất trương lực cơ chóp bàng quang.
3. Gây tê ngoài màng cứng làm tăng nguy cơ bí tiểu sau sinh qua những cơ chế nào?
Gây tê ngoài màng cứng làm gia tăng nguy cơ bí tiểu qua ba cơ chế phối hợp:
- Thuốc tê ức chế các sợi thần kinh cảm giác và thực vật dẫn truyền qua rễ tủy cùng S2 - S4, làm mất cảm giác căng bàng quang và ức chế cung phản xạ bài niệu đến trung tâm tiểu tiện ở cầu não.
- Thuốc nhóm opioid sử dụng trong giảm đau làm ức chế chọn lọc sự co bóp của cơ detrusor thành bàng quang phụ thuộc liều lượng.
- Quy trình gây tê ngoài màng cứng đòi hỏi phải truyền dịch tĩnh mạch liên tục để đề phòng biến chứng tụt huyết áp. Lượng dịch truyền làm bàng quang tích tụ nước tiểu nhanh chóng trong khi sản phụ bị mất hoàn toàn cảm giác buồn tiểu, dẫn đến tình trạng bàng quang bị căng giãn quá mức trong chuyển dạ.
4. Ưu điểm và nhược điểm của hai phương pháp thông tiểu theo tổng kết của luận án là gì?
- Thông tiểu lưu (ống thông Foley): Ưu điểm là làm trống bàng quang liên tục, chỉ can thiệp một lần, giảm áp lực căng cơ detrusor và tiết kiệm đáng kể thời gian, công sức chăm sóc của hộ sinh (được 81,5% đến 92% hộ sinh ưa chuộng theo nghiên cứu của Rivard). Nhược điểm là biện pháp xâm lấn, có thể gây khó chịu, vướng víu cho sản phụ và có nguy cơ đặt ống thông không thực sự cần thiết ở khoảng 8,5% sản phụ vẫn giữ được khả năng tự tiểu.
- Thông tiểu gián đoạn (ống thông Nelaton): Ưu điểm là chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết, bảo tồn phản xạ tiểu tự nhiên ở những người không bị ứ nước tiểu. Nhược điểm là dễ bỏ sót cầu bàng quang trong bối cảnh phòng sinh quá tải, thao tác đặt ống thông nhiều lần làm tăng nguy cơ sang chấn niệu đạo và tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu (nghiên cứu của Millet ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu ở nhóm gián đoạn là 8,9% so với 1,5% ở nhóm lưu).
5. Cỡ mẫu của thử nghiệm lâm sàng được xác định dựa trên các tham số nào?
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính bằng công thức so sánh hai tỷ lệ độc lập với các tham số:
- Mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ (độ tin cậy 95%, $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$).
- Lực mẫu $1 - \beta = 0,80$ ($\beta = 0,20$, $Z_{1-\beta} = 0,84$).
- Tỷ lệ bí tiểu sau sinh ước tính ở nhóm can thiệp thông tiểu lưu $p_1 = 0,185$ (18,5%).
- Tỷ lệ bí tiểu sau sinh ước tính ở nhóm chứng thông tiểu gián đoạn $p_2 = 0,122$ (12,2%).
Kết quả tính toán đưa ra cỡ mẫu tối thiểu là 545 sản phụ cho mỗi nhóm, xác lập tổng quy mô nghiên cứu là 1.090 sản phụ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Phan Thị Hằng là công trình thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên quy mô 1.090 sản phụ, thực hiện tại Bệnh viện Hùng Vương nhằm giải quyết vấn đề chăm sóc bàng quang trên sản phụ có giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ chế bệnh sinh và tiêu chuẩn hóa điểm cắt dung tích nước tiểu tồn lưu 400 ml đo bằng máy scan bàng quang 3D để chẩn đoán bí tiểu cấp sau sinh. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống chứng cứ thực nghiệm vững chắc về hiệu quả phòng ngừa bí tiểu, nguy cơ nhiễm khuẩn niệu và các kết cục chuyển dạ giữa phương pháp thông tiểu lưu và thông tiểu gián đoạn. Đây là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị thực tiễn cao, hỗ trợ các nhà lâm sàng và quản lý y tế chuẩn hóa quy trình chăm sóc chu sinh trong điều kiện thực tế tại Việt Nam.