Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về chuyển dạ 1. Định nghĩa chuyển dạ Chuyển dạ là quá trình sinh lý làm cho thai và phần phụ của thai được đưa ra khỏi đường sinh dục của người mẹ. Cơn co tử cung (CCTC) là động lực chính của cuộc chuyển dạ tạo nên hiện tượng xoá, mở cổ TC, thành lập đoạn dưới TC, làm thay đổi đáy chậu đồng thời đẩy thai và rau từ trong buồng TC ra ngoài [9], [26].
Các giai đoạn của cuộc chuyển dạ Quá trình chuyển dạ đẻ được chia làm 3 giai đoạn, thời gian của mỗi giai đoạn dài ngắn khác nhau. * Giai đoạn I: giai đoạn xoá mở cổ TC, tính từ khi bắt đầu chuyển dạ tới khi cổ TC mở hết. Đây là giai đoạn dài nhất của cuộc chuyển dạ, thời gian với con so là 9-18 giờ, với con rạ là 6-13 giờ. Từ trước tới nay nhiều tác giả nghiên cứu những tác động để rút ngắn cuộc chuyển dạ, chủ yếu chính là tác động rút ngắn giai đoạn này.
Giai đoạn này là kết quả của CCTC, được chia làm 2 pha: + Pha tiềm tàng (giai đoạn Ia): tính từ lúc bắt đầu chuyển dạ đến khi cổ TC mở 3cm, thời gian trung bình khoảng 8 giờ. + Pha tích cực (giai đoạn Ib): tình từ lúc cổ TC mở 3 cm đến khi cổ TC mở hết, thời gian trung bình 7 giờ. Đây là giai đoạn dài nhất và khó khăn nhất của cuộc chuyển dạ [26]. * Giai đoạn II: giai đoạn lọt và sổ thai, tính từ khi cổ TC mở hết, ngôi lọt đến khi thai sổ thai ra ngoài.
Giai đoạn này được thực hiện nhờ 2 yếu tố: CCTC và cơn co thành bụng. Thời gian của giai đoạn này ngắn hơn của giai đoạn I, thời gian từ 30 phút đến 1 giờ. 4 * Giai đoạn III: giai đoạn bong và sổ rau, bắt đầu tính từ khi thai sổ đến khi rau xuống và sổ ra ngoài, thời gian giai đoạn này cho phép kéo dài tối đa khoảng 1 giờ, trung bình 15 – 30 phút [9]. Cơ chế của chuyển dạ đẻ Cho đến nay cơ chế phát sinh chuyển dạ còn chưa rõ ràng và đầy đủ tuy nhiên một số giả thuyết đã được chấp nhận.
Vai trò của Prostaglandin (PG) Các PG là những chất có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của cơ TC. Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ TC vào lúc bắt đầu của cuộc chuyển dạ. Có thể gây chuyển dạ bằng PG ở bất kỳ tuổi thai nào và sử dụng thuốc đối kháng với PG có thể làm ngừng cuộc chuyển dạ. Các PG tham gia làm chín muồi cổ TC do tác dụng lên chất collagene của cổ TC [24], [44].
Oxytocin Người ta đã xác định được có sự tăng tiết Oxytocin ở vùng dưới đồi của não và được bài tiết vào máu nhờ tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ. Các đỉnh liên tiếp nhau của Oxytocin có tần số tăng lên trong quá trình chuyển dạ đẻ và đạt mức tối đa khi rặn đẻ [17]. Estrogen và Progesteron Trong quá trình thai nghén các chất Estrogen tăng lên nhiều làm tăng kích thích các sợi cơ trơn của TC và tốc độ lan truyền của hoạt động điện. Cơ TC trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây CCTC.
Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ TC và làm thuận lợi cho việc tổng hợp PG. Progesteron có tác dụng ức chế với co bóp của cơ TC. Nồng độ Progesteron giảm ở giai đoạn cuối thời kỳ thai nghén, nó làm thay đổi tỷ lệ Estrogen/Progesteron là tác nhân gây chuyển dạ [9]. Các yếu tố khác Sự căng giãn quá mức của cơ TC và sự đáp ứng với kích thích sẽ phát sinh ra chuyển dạ đẻ.
Các yếu tố thai nhi: thai vô sọ hay thiểu năng tuyến thượng thận thì thai nghén thường kéo dài, ngược lại nếu thai bị cường thượng thận sẽ đẻ non. Nhiễm khuẩn cũng là một vấn đề liên quan đến khởi phát chuyển dạ. Trong một số trường hợp vi khuẩn tiết ra men phospholipaza dẫn đến hình thành PG từ acid arachidomic có sẵn trong dịch ối gây nên chuyển dạ [41]. Động lực chính của cuộc chuyển dạ CCTC là động lực chính của cuộc chuyển dạ, nếu không có CCTC thì sẽ không có chuyển dạ [15].
* Đối với người mẹ: CCTC giúp thành lập đoạn dưới TC, làm xoá mở cổ TC và những thay đổi ở đáy chậu khi sổ thai. * Đối với thai nhi: CCTC tạo áp lực để đẩy thai nhi từ TC ra ngoài qua các giai đoạn: lọt, xuống, quay, sổ. * Đối với phần phụ của thai: CCTC tạo áp lực thành lập đầu ối. Sau khi sổ thai thì làm cho rau bong và đẩy rau cùng màng rau sổ ra ngoài, TC co lại thành cầu an toàn có tác dụng cầm máu sau đẻ.
CCTC và bất thường của CCTC trong chuyển dạ Trong chuyển dạ CCTC là động lực chính làm cho cuộc chuyển dạ tiến triển và kết thúc bằng việc sổ thai theo đường âm đạo an toàn cho mẹ và con. Vì vậy bất thường của CCTC trong chuyển dạ, có thể gây những nguy cơ cho người mẹ và thai nhi. Vì vậy việc nghiên cứu sinh lý và bệnh lý học của CCTC đã trở thành một vấn đề thời sự của sản khoa hiện nay với rất nhiều phương pháp nghiên cứu mới. Đặc điểm của CCTC - CCTC xuất hiện một cách tự nhiên ngoài ý muốn của thai phụ.
Điểm xuất phát của CCTC nằm ở một trong hai sừng của TC (thường là sừng phải). 6 - CCTC có tính chất chu kỳ đều đặn, sau một thời gian co bóp là khoảng thời gian nghỉ rồi lại tiếp tục vào một chu kỳ khác. Thời gian giữa các cơn co ngắn dần. - CCTC dài dần ra, cường độ CCTC tăng dần lên.
- CCTC gây đau, ngưỡng đau phụ thuộc vào từng người. Khi áp lực cơn co đạt 25 – 30 mmHg thì thai phụ bắt đầu thấy đau. Đau xuất hiện sau khi xuất hiện CCTC và mất đi trước khi hết CCTC. CCTC càng mau, càng mạnh và thời gian càng dài thì càng đau nhiều.
Khi có tình trạng lo lắng, sợ sệt cảm giác đau tăng lên. - CCTC có tính ba giảm: áp lực CCTC giảm dần từ trên xuống dưới, thời gian CCTC giảm dần, sự lan truyền CCTC cũng giảm dần tử trên xuống dưới. - Bình thường khi có thai TC có những cơn co nhẹ đặc biệt ở những tháng cuối gọi là cơn co Hicks, áp lực cơn co từ 3 - 15mmHg có đặc điểm khoảng cách giữa các cơn co dài và không gây đau. Trương lực cơ bản của cơ TC từ 5 - 15mmHg (trung bình là 10mmHg) tuỳ từng giai đoạn của cuộc chuyển dạ.
- Cường độ của cơn co là số đo ở thời điểm áp lực TC cao nhất. - Hiệu lực CCTC = cường độ cơn co - trương lực cơ bản của TC. - Thời gian của CCTC tính từ thời điểm TC bắt đầu co bóp đến khi hết cơn co [32]. CCTC trong chuyển dạ.
- Thời gian co: Lúc bắt đầu chuyển dạ: 15 - 20 giây. Khi cổ TC mở hết: 50 - 60 giây. - Thời gian nghỉ: Lúc bắt đầu chuyển dạ: 10 - 15 phút. Pha tiềm tàng: 3 cơn co trong 10 phút.
Pha tích cực: 4 - 5 cơn co trong 10 phút. - Cường độ cơn co: Pha tiềm tàng: 20 – 30 mmHg. Pha tích cực: 50 – 80 mmHg. 7 - Trương lực cơ bản: là áp lực tối thiểu giữa hai CCTC, nó tăng dần trong quá trình chuyển dạ (từ 5 - 20 mmHg).
- CCTC yếu là cơn co yếu không tương xứng với độ mở của cổ TC (áp lực thấp hơn 30 mmHg). - Cơn co thưa: tần số cơn co thấp dưới 3 cơn co trong 10 phút, thời gian cơn co ngắn dưới 20 giây trong pha tiềm tàng và dưới 40 giây trong pha tích cực. - Cơn co mạnh: khi cường độ cơn co tăng lên trên 80 mmHg. - Cơn co mau khi tần số cơn co vượt quá 6 cơn co trong vòng 10 phút [4].
Các bất thường của CCTC trong chuyển dạ Đánh giá CCTC: để đánh giá được CCTC trong chuyển dạ có thể có nhiều phương pháp nhưng có hai phương pháp thường được sử dụng hiện nay là: - Phương pháp lâm sàng: đo cơn co bằng cách trực tiếp đặt bàn tay lên thành bụng của sản phụ. Khi có cơn co thấy TC gồ lên, cứng lại, khi hết cơn co TC mềm trở lại. Cách đo này tuy chưa thật chính xác lắm, nó chỉ cho ta biết được thời gian kéo dài của mỗi cơn co và khoảng cách giữa hai cơn co là bao nhiêu nhưng đây là phương pháp dễ áp dụng và phổ biến ở nước ta hiện nay để theo dõi CCTC trong chuyển dạ. - Phương pháp theo dõi tim thai - CCTC bằng máy Mornitoring sản khoa: cho phép ta đánh giá được chính xác cường độ, tần số và cả trương lực của TC qua từng giai đoạn của cuộc chuyển dạ [18].
Các bất thường của CCTC trong chuyển dạ: gồm các rối loạn CCTC thường gặp sau: * CCTC tăng: thời gian của cơn co kéo dài, cường độ cơn co mạnh hơn, khoảng cách giữa hai cơn co ngắn hơn bình thường. Nghĩa là cơn co dài, mạnh và mau, trương lực cơ bản của TC tăng, hiệu lực cơn co giảm. * CCTC giảm: ngược lại với CCTC tăng thì cơn co có thời gian ngắn, thời gian giữa hai cơn co dài, cường độ cơn co nhẹ. Nghĩa là CCTC ngắn, yếu và thưa hơn bình thường làm cho cuộc chuyển dạ bị trì trệ hoặc tiến triển chậm chạp [32], [18], [59].
8 * CCTC không đồng bộ: tức là không đều về cường độ về tần số và khoảng cách của các cơn co, làm rối loạn mối tương quan của CCTC và độ mở cổ TC, mối tương quan của phần trên và đoạn dưới TC. Hậu quả là các cơn co có vẻ như vẫn đủ mạnh và gây đau nhưng cổ TC và ngôi thai thì hầu như không có tiến triển hoặc tiến triển rất chậm [18]. Cổ TC với những biến đổi khi có thai và trong chuyển dạ 1. Đặc điểm cấu tạo Cổ TC có hình trụ dài 2-3cm, rộng 2,5cm, khi chưa đẻ cổ TC trơn láng, mật độ chắc, sau đẻ cổ TC rộng ra theo chiều ngang mật độ mềm.
Cổ TC có rất ít cơ, chỉ có ít thớ chạy dọc ở gần ngoại vi và ít cơ vòng bên trong, còn lại là tổ chức liên kết và chủ yếu là các sợi tạo keo (Collagen) làm cho cổ TC dễ xóa và mở trong chuyển dạ [9]. Thần kinh chi phối Cổ TC cũng như TC được chi phối bởi thần kinh giao cảm và phó giao cảm.