CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu sinh lý hệ sinh dục nữ 1. Giải phẫu cơ quan sinh dục nữ Cơ quan sinh dục của nữ gồm: cơ quan sinh dục trong (buồng trứng, vòi tử cung, tử cung và âm đạo) và bộ phận sinh dục ngoài (âm hộ, âm vật, ngoài ra còn có vú là tuyến tiết sữa trong thời kỳ nuôi con) [8], [33]. Tuyến vú được xem như là cơ quan sinh dục thứ hai của người phụ nữ và là nguồn dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh.
Đầu của núm vú có nhiều lỗ nhỏ là lỗ tiết của các ống tiết sữa. Các tuyến sữa là loại tuyến chùm, tạo thành các tiểu thùy. Nhiều tiểu thùy hợp thành các thùy. Mỗi vú có khoảng 15–20 thùy, mỗi thùy đỗ ra núm vú bởi một ống tiết sữa.
Ở quầng vú, các ống tiết sữa nở rộng ra tạo thành xoang sữa là nơi sữa được gom vào để chuẩn bị cho một bữa bú [8], [24], [33]. Cơ quan sinh dục trong gồm: Hai buồng trứng là tuyến vừa ngoại tiết (tiết ra trứng) vừa nội tiết (tiết ra nội tiết tố nữ quyết định giới tính sinh dục phụ). Hai vòi tử cung để dẫn trứng về buồng tử cung, tử cung là cơ quan chứa thai và đẩy thai ra ngoài, âm đạo là đường dẫn thai ra ngoài từ tử cung. Bộ phận sinh dục ngoài gồm âm hộ là cơ quan giao hợp của nữ, âm vật tương đương dương vật ở nam và lỗ niệu đạo [8], [27], [33].
Sinh lý của bà mẹ khi mang thai Thụ tinh [9], [13] Sự thụ thai: thụ thai là sự kết hợp giữa 1 tinh trùng và 1 trứng để hình thành 1 tế bào có khả năng phát triển gọi là trứng đã thụ tinh. Tinh trùng sinh ra từ tinh hoàn của đàn ông, còn trứng được sản xuất từ buồng trứng của phụ nữ - Tinh trùng: từ tế bào mầm của tinh hoàn qua giảm phân 2 lần tạo thành tinh trùng có 22 NST thường và 1 NST giới tính X hoặc Y. - Noãn bào: từ những tế bào mầm từ buồng trứng tạo thành noãn nguyên bào. - Cơ chế thụ tinh: tinh trùng đến 1/3 ngoài của vòi trứng, vây quanh noãn bào rồi bám vào màng trong suốt của noãn bào do sự liên quan lý hóa giữa men fertilyzin của vùng màng trong suốt và các men ở đầu tinh trùng.
Tinh trùng thụ 4 tinh, khúc giữa và khúc cuối tiêu đi. Đầu tinh trùng chui qua noãn bào tử thành tiền nhân đực có n NST. Lúc ấy noãn bào cũng đã phóng ra cực đầu II để trở thành tiền nhân cái cũng có n NST. Nếu tinh trùng thụ tinh mang NST giới Y, sẽ tạo thành một tế bào hợp nhất mang XY, sẽ là thai trai.
Tinh trùng mang NST giới tính X sẽ tạo thành một tế bào hợp nhất mang XX, sẽ là thai gái. - Sự làm tổ của trứng: trứng thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung mất từ 4 đến 6 ngày. Trứng thường làm tổ ở vùng đáy tử cung và ở mặt sau nhiều hơn mặt trước. - Sự phát triển của trứng và phần phụ của trứng: sau khi thụ tinh, trứng phân chia rất nhanh để cấu tạo thành thai nhi và phần phụ của thai nhi để giúp cho sự phát triển của thai.
Quá trình phát triển của trứng chia làm 2 thời kỳ: Thời kỳ sắp xếp tổ chức (bắt đầu từ lúc thụ tinh tới hết tháng thứ 2) và thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức (từ tháng thứ ba đến khi đủ tháng). Tổng quan về mổ lấy thai 1. Định nghĩa mổ lấy thai Mổ lấy thai là một phẫu thuật nhằm lấy thai nhi, nhau và màng ối qua một vết mổ ở thành tử cung đang nguyên vẹn. Định nghĩa này không bao hàm việc mổ bụng lấy một thai ngoài tử cung nằm trong ổ bụng hoặc lấy một thai nhi đã rơi một phần hay toàn bộ vào trong ổ bụng do vỡ tử cung [14], [39].
Chỉ định mổ lấy thai Ngày nay mổ lấy thai được chỉ định trong những trường hợp mà cuộc sinh ngã âm đạo tỏ ra không an toàn cho mẹ và thai nhi. Nhiều chỉ định rất rõ ràng nhưng có những chỉ định là tương đối. Trong nhiều trường hợp cần cân nhắc trong mổ lấy thai hoặc sinh ngã âm đạo để có được chỉ định tối ưu. Các chỉ định thông thường nhất - Bất tương xứng đầu chậu: + Khung chậu hẹp hay khung chậu bình thường nhưng thai to + Nghiệm pháp lọt thất bại Thang Long University Library 5 + Dọa vỡ tử cung - Khởi phát chuyển dạ thất bại - Rối loạn cơn gò tử cung không điều chỉnh được bằng thuốc - Cổ tử cung không tiến triển - Nhau tiền đạo trung tâm nhưng phần lớn các trường hợp nhau tiền đạo bán trung tâm - Nhau bong non - Sa dây rốn ở thai có khả năng sống nhưng không đủ điều kiện để sinh ngã âm đạo tức thì - Ngôi bất thường - Suy thai trong chuyển dạ - Thai kém phát triển trong tử cung, mạng sống bào thai đang bị đe dọa - Thai quá ngày có chống chỉ định khởi phát chuyển dạ - Vết mổ cũ thân tử cung + một bất thường khác - Rốn quấn cổ > 2 vòng - Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn 1.
Các chỉ định khác - Herpes sinh dục đang tiến triển - Chấm dứt thai kỳ sớm trên mẹ tiểu đường - Dò bàng quang - âm đạo, trực tràng - âm đạo mới được tạo hình [14] * Những yếu tố thường được suy xét thêm vào chỉ định mổ nhưng không phải là chỉ định mổ lấy thai: - Con so lớn tuổi - Con quý hiếm * Những yếu tố làm cho chỉ định mổ cần được cân nhắc - Thai đã chết - Thai có dị tật quan trọng đã được xác định - Thai còn quá non tháng, khó có khả năng sống. Kỹ thuật mổ lấy thai 1. Mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai đây là phương pháp thông dụng nhất Thời điểm mổ lấy thai: tốt nhất là vào thời điểm chuyển dạ, lúc này đoạn dưới tử cung thành lập tốt. Trong những trường hợp có vết mổ cũ trên cơ tử cung thường mổ lấy thai ngay khi có bắt đầu vào chuyển dạ.
Vô cảm: Có thể gây tê ngoài màng cứng, tê tủy sống, mê nội khí quản hay gây tê tại chỗ. Đường vào: Có thể một trong hai đường sau: (1) Đường trắng giữa dưới rốn trên xương vệ: đây là đường cơ động, rộng có thể thực hiện rất nhanh và lấy thai ra dễ dàng. Nếu mổ lại lần sau phẫu thuật cũng dễ dàng hơn. (2) Đường ngang trên vệ: có nguy cơ thoát vị trên thành bụng, sau mổ thẩm mỹ nhưng thời gian mở bụng lâu hơn mổ lại lần sau sẽ khó khăn hơn do vết mổ thấp nằm gần bang quang.
- Mở phúc mạc tử cung là phần phúc mạc của đoạn dưới tử cung - Mở ngang đoạn dưới tử cung lấy thai: Xác định đoạn dưới tử cung thành lập tốt, dùng dao mổ một đường rạch ngang dài khoảng 3 cm, đường rạch này hơi thấp hơn đường mở phúc mạc. + Trong những trường hợp mổ lúc chưa vào chuyển dạ, đoạn dưới tử cung chưa thành lập tốt nên mổ tử cung phía trên đáy bàng quang khoảng 2- 3cm. + Trường hợp mổ lúc đã chuyển dạ giai đoạn hoạt động: bàng quang kéo lên cao do đoạn dưới tử cung đã kéo dài đường mổ tử cung không nên quá thấp vì nguy cơ sẽ mổ trên cổ tử cung. + Sau đó dùng kéo mở rộng đường rạch ngang hai bên thành một đường hình vòng cung dài khoảng 10 cm với bề cong lõm hướng lên trên.
Chú ý đường cắt phải cong và luôn hướng lên trên để đường cắt đủ dài mà không phạm phải động mạch tử cung ở 2 cạnh bên tử cung. + Trong trường hợp đoạn dưới tử cung đã căng mỏng có thể dùng hai ngón tay xẻ ngang đoạn dưới thay vì cắt. Thang Long University Library 7 Lấy thai: là khâu khó nhất vì phải lấy thai nhanh đồng thời không làm rách thêm vết mổ: + Trong ngôi đầu: Cho bàn tay vào phía dưới đầu thai đẩy đầu thai lên ngang với mép vết mổ tử cung, sau đó đẩy nhẹ nhàng vào đáy tử cung để ngôi thai trượt trên bàn tay và thoát từ từ ra khỏi vết mổ. Nếu đầu xuống thấp, phải đẩy đầu lên.
+ Trong ngôi mông: lấy thai bằng chân hay mông. + Trong ngôi ngang: lấy thai bằng chân. Sổ nhau: + Nhau có thể được bóc bằng tay và lấy ra ngay + Dùng một gạc ấm lau sạch buồng tử cung + Nếu khi mổ chưa chuyển dạ có thể dùng ngón tay hoặc que nong để nong cổ tử cung để tránh bế sản dịch, nguy cơ bị nhiễm trùng. Khâu cơ tử cung: khâu một lớp hay hai lớp: + Khâu cơ tử cung phải lấy toàn bộ lớp cơ, không lấy lớp niêm mạc tử cung + Khâu lại phúc mạc tử cung: khâu không có chảy máu, mép vết cắt phúc mạc được khâu phủ vào trong để giảm nguy cơ dính ruột.
Lấy gạc, đóng bụng. Mổ dọc thân tử cung lấy thai - Thời điểm mổ: nên mổ chủ động trước chuyển dạ vì nguy cơ vỡ tử cung - Chỉ định: hiện nay phương pháp này ít thực hiện do nhiều khuyết điểm. Chỉ định mổ dọc thân tử cung thường trong các trường hợp như: + Nhau tiền đạo ở mặt trước đoạn dưới tử cung + Ngôi ngang + Vết mổ lấy thai cũ quá dính khó vào được phần thân dưới + Mổ lấy thai trên mẹ vừa chết + Mổ lấy thai trong những tư thế ngồi Bảng 1. So sánh 2 phương pháp mổ lấy thai 8 Mổ ngang đoạn dưới tử cung Mổ dọc thân tử cung - Chảy máu ít do đoạn dưới tử cung chỉ có 2 lớp - Lấy thai dễ, nhanh; cơ mỏng (dọc và vòng) - Ít tổn thương động mạch tử - Dễ phục hồi lớp cơ theo đúng cơ thể học cung; - Nguy cơ dính ít - Chảy máu nhiều do rạch - Nhờ có lớp phúc mạc tử cung mau lành nên qua 3 lớp cơ tử cung; hạn chế sự thông thương giữa buồng tử cung và - Khó phục hồi theo đúng ổ bụng giải phẩu các lớp cơ; - Khó lấy thai hơn - Nguy cơ dính cao - Dễ tổn thương động mạch tử cung Dễ tổn thương bàng quang 1.
Biến chứng của bà mẹ sau mổ lấy thai Phẫu thuật mổ lấy thai không phải là không có biến chứng. Biến chứng xảy ra bao gồm cho cả mẹ và cho cả con [39]. Biến chứng của mẹ sau mổ lấy thai * Biến chứng gần - Tử suất của mẹ thay đổi theo trình độ, kỹ thuật, kinh tế - xã hội của mỗi nước.