ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường típ 2 là một bệnh mãn tính không lây, nó liên quan nhiều đến các yếu tố dinh dưỡng và lối sống, có tốc độ phát triển rất nhanh ở các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển hoặc kém phát triển. Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng liên quan đến sự thiếu hụt insulin hoặc tăng sự đề kháng insulin hoặc phối hợp cả hai cơ chế trên, điều này làm tăng glucose máu mãn tính dẫn đến sự rối loạn, suy yếu, tổn thương của nhiều hệ cơ quan trong cơ thể: hệ tim mạch, hệ thần kinh, thận, mắt … Đái tháo đường được xem là “kẻ giết người thầm lặng”, là đại dịch của thế kỷ XXI, đại đa số bệnh nhân đến khám bệnh trong tình trạng đường huyết tăng cao, có hoặc có không tổn thương các cơ quan đích. Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường năm 2019 chiếm 9.3% dân số thế giới , dự kiến tăng gấp 1,5 lần vào năm 2045, trong đó tại Việt Nam tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường năm 2015 là 4,1 %. Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2015 có 415 triệu người mắc bệnh đái tháo đường có độ tuổi 20 – 79 tuổi, 193 triệu người chưa được chẩn đoán, hơn 318 triệu người rối loạn dung nạp glucose.
Trong năm 2015, đái tháo đường gây ra tử vong cho 5 triệu người và tổn thất khoảng 673 triệu đô la cho các chi phí về chăm sóc sức khỏe. Theo ước đoán, đến năm 2040 sẽ có khoảng 642 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó chủ yếu là đái tháo đường típ 2, chiếm khoảng trên 90% các trường hợp bệnh đái tháo đường, trong đó 3/4 người mắc bệnh đái tháo đường đang sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Ở Châu Âu và Mỹ, bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có tỷ lệ béo phì chiếm tỷ lệ 60 – 70%, trong khi đó một số nghiên cứu ở Châu Á thì tỷ lệ này thấp hơn. Tuy nhiên, béo phì vẫn là yếu tố tiên đoán.
2 quan trọng cho các rối loạn về chuyển hóa như rối loạn dung nạp glucose, rối loạn lipid máu, ĐTĐ típ 2 và các bệnh lý tim mạch. Trong thời gian qua có rất nhiều các nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa đái tháo đường với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở trong và ngoài nước như các nghiên cứu: khảo sát tình hình tăng TG máu và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 của tác giả Trần Quang Nam, Mã Tùng Phát, Nguyễn Quốc Hoàng. Nghiên cứu mối tương quan giữa HbA1c, glucose máu lúc đói với các yếu tố nguy cơ tim mạch trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đang điều trị tại bệnh viện 4 quân đoàn 4 của các tác giả Phạm Thị Hải Yến, Phạm Khắc Triệu. Nhưng ngược lại người ta lại ít chú ý đến tầm quan trọng của béo phì trong dân số mắc bệnh đái tháo đường, điều này rất quan trọng vì béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch, là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh lý đái tháo đường típ 1 và típ 2.
Giảm cân có tác dụng rất tốt đối với việc kiểm soát đường huyết, làm tăng độ nhạy cảm của insulin ở tất cả các mô trong cơ thể. Trong các nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường thì béo phì là một trong những nguyên nhân có thể thay đổi được, trong một số nghiên cứu người ta nhận thấy khi thay đổi lối sống ở một số bệnh nhân rối loạn chuyển hóa glucose máu có thừa cân nhằm mục đích làm giảm trọng lượng cơ thể thì làm giảm nguy cơ phát triển thành bệnh đái tháo đường. Theo công bố của WHO năm 2016, tỉ lệ béo phì ở người lớn trên thế giới là 13%, còn ở Việt Nam tỉ lệ này là 2,1%. Béo phì là yếu tố nguy cơ gây tử vong xếp hàng thứ 5 trên thế giới.
Có 4,7 triệu người chết vào năm 2017 liên quan đến béo phì. Và có 8% cái chết trên thế giới được cho là do béo phì gây ra (tăng so với con số 4,5% năm 1990). Nghiên cứu nhằm so sánh mối liên hệ giữa thừa cân, béo phì với các bệnh nhân không thừa cân ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 về sự kiểm soát các. 3 yếu tố nguy cơ tim mạch như: tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, mức độ kiểm soát đường huyết, từ đó có các biện pháp làm giảm trọng lượng cơ thể ở bệnh nhân có thừa cân nhằm kiểm soát tốt hơn các yếu tố nguy cơ tim mạch.
Hiện nay tại Việt Nam, theo sự phát triển khoa học công nghệ, lối sống lười vận động rất phổ biến, hậu quả của nó là gây ra thừa cân và béo phì. Tuy nhiên chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào ở Việt Nam trong khoảng 10 năm gần đây đánh giá cụ thể về tỉ lệ béo phì cũng như tỉ lệ các bệnh đồng mắc ở những bệnh nhân ĐTĐ. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài khảo sát “Tỉ lệ béo phì và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại phòng khám Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM”, để đánh giá tỉ lệ và thực trạng béo phì và các bệnh đồng mắc trên bệnh nhân ĐTĐ, từ đó chúng tôi hỗ trợ thích hợp cho người bệnh trong việc thực hiện hiệu quả các khuyến cáo, kiểm soát tình trạng sức khỏe của bản thân. 4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỉ lệ béo phì của người bệnh ĐTĐ típ 2 đang điều trị tại Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đại học Thành Phố Hồ Chí Minh từ 02/2022 đến 08/2022 là bao nhiêu? Có hay không mối liên quan giữa tỉ lệ béo phì với các yếu tố đặc điểm dân số và các yếu tố liên quan khác? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung Xác định tỉ lệ béo phì ở người bệnh ĐTĐ típ 2 đang điều trị tại phòng khám nội tiết, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan.
Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ béo phì ở người bệnh ĐTĐ típ 2 đang điều trị tại Phòng khám nội tiết Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. Xác định các yếu tố liên quan với béo phì ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 (tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh, bệnh lý đi kèm, vận động thể lực, HbA1C, mỡ máu và các thuốc điều trị ĐTĐ). Định nghĩa ĐTĐ típ 2 Bệnh ĐTĐ típ 2 là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai.
Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim, mạch máu, thận, mắt và thần kinh… 1. Dịch tễ học của bệnh ĐTĐ típ 2 Hiện nay ĐTĐ típ 2 là vấn đề sức khỏe toàn cầu do số người mắc bệnh ngày càng tăng nhiều ở tất cả các quốc gia. Tỷ lệ ĐTĐ típ 2 gia tăng trên thế giới cùng với mức độ đô thị hóa và đời sống vật chất ngày càng cao, tuổi thọ kéo dài, chế độ làm việc ít vận động và tỷ lệ béo phì ngày càng gia tăng. Trên thế giới vào năm 2015, ước tính có 415 triệu người mắc bệnh ĐTĐ típ 2 chiếm khoảng 90% các trường ĐTĐ.
Con số này tương đương với khoảng 6% dân số thế giới 2. Bệnh ĐTĐ không phổ biến ở các nước kém phát triển, tuy nhiên là một trong những bệnh rất phổ biến cả ở các nước phát triển và đang phát triển 3 Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ năm 1985 được ước tính là 30 triệu, tăng lên 135 triệu vào năm 1995 và 217 triệu vào năm 2005 4. Sự gia tăng này được cho là chủ yếu do sự già hóa dân số toàn cầu, giảm tập thể dục và tăng tỷ lệ béo phì. Năm quốc gia có số người mắc bệnh đái tháo đường nhiều nhất vào năm 2000 là Ấn Độ có 31,7 triệu, Trung Quốc 20,8 triệu, Hoa Kỳ 17,7 triệu, Indonesia 8,4 triệu và Nhật Bản 6,8 triệu 5.
Nó được công nhận là một dịch bệnh toàn cầu bởi Tổ chức Y tế Thế giới Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh ĐTĐ là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 30 – 64 là 2,7%, vùng đồng bằng, ven biển.
Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước. 6 đang phát triển (như Việt Nam) là 170%. Vấn đề đặt ra là phải ngăn chặn hoặc hạn chế sự bùng nổ ĐTĐ cũng như các biến chứng của nó. Để giải quyết vấn đề này, người ta đã cố gắng tìm hiểu cơ chế bệnh sinh và các yếu tố thuận lợi của ĐTĐ vốn dĩ rất đa dạng.
Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ được biết nhiều nhất hiện nay là béo phì và lối sống thiếu vận động mà trước mắt người ta có thể tác động tích cực vào để làm giảm nguy cơ ĐTĐ típ 2. Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ típ 2 ĐTĐ típ 2 là một bệnh mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do hai hiện tượng: Khiếm khuyết trong sự tiết insulin của tế bào β tuyến tụy và sự đề kháng inslin đối với mô đích (chủ yếu mô gan và cơ). Cả 2 bất thường cơ bản này là do sự tương tác và chi phối bởi các yếu tố theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ típ 2 Nguồn: “Zheng, Y. Global aetiology and epidemiology of type 2 diabetes mellitus and its complications.
Nature Reviews Endocrinology, 14(2), 88–98” 6. 7 Yếu tố di truyền ảnh hưởng lên ĐTĐ típ 2 rất mạnh dựa vào các yếu tố sau: Hầu hết các trường hợp mắc bệnh ĐTĐ đều liên quan đến nhiều gene, với mỗi gene là một đóng góp nhỏ để tăng khả năng phát triển thành ĐTĐ típ 2. Nếu một người trong cặp sinh đôi mắc bệnh đái tháo đường, thì người kia có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ đang phát triển trong vòng đời của họ lớn hơn 90%, trong khi tỷ lệ cho anh chị em trong một gia đình là 25-50% 3. Tính đến năm 2011, hơn 36 gene đã được tìm thấy là góp phần vào nguy cơ mắc ĐTĐ típ 2 7.