CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tăng huyết áp 1. Định nghĩa huyết áp Huyết áp là áp lực ở trong lòng động mạch góp phần giúp cho máu được luân chuyển trong động mạch tới các mô và cơ quan. Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) là do lực co bóp của tim tạo nên.
Huyết áp của chúng ta ở mức cao nhất khi tim co bóp. Trái lại huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương) là do trương lực thành mạch tạo nên (và trong thời kỳ tim giãn – tâm trương). Huyết áp bị ảnh hưởng bởi tim (sức co bóp và nhịp đập); độ quánh của máu; thể tích máu lưu thông và bản thân thành mạch (sức đàn hồi). Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), huyết áp tối ưu đo ở cánh tay là ≤120/80mmHg.
Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm lý và một số yếu tố khác…[45]. Định nghĩa tăng huyết áp Theo khuyến cáo Hội tim mạch học Việt Nam (VNHA) năm 2022, Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu (HATT) và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) tương ứng lớn hơn hoặc bằng 140 hoặc 90 mmHg [14]. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc được xác định là huyết áp tâm thu (HATT) tăng ( ≥ 140mmHg) và huyết áp tâm trương (HATTr) không tăng (< 90 mmHg), thường gặp ở người trẻ và người cao tuổi. Ở những người trẻ tuổi, bao gồm trẻ em, thanh thiếu niên và ngưởi trưởng thành trẻ tuổi, tăng huyết áp tâm thu đơn độc là hình thức phổ biển của tăng huyết áp.
Tuy nhiên, nó cũng đặc biệt phổ biến ở người cao tuổi, trong đó, nó phản ánh tình trạng xơ cứng động mạch lớn với sự gia tăng áp lực mạch [14]. THA tâm trương đơn độc: Thường xảy ra ở người trung niên, THA tâm trương thường được định nghĩa khi HATT < 140mmHg và HATTr 90mmHg Tăng huyết áp ẩn giấu: là tình trạng huyết áp bình thường khi đo tại cơ sở y tế nhưng đo ở những nơi khác (tại nhà hoặc nơi làm việc) lại cao. Phát hiện THA ẩn giấu bằng việc theo dõi HA liên tục 24 giờ [13]. Dịch tễ học Theo báo cáo của WHO năm 2013, tỷ lệ THA ở người trưởng thành 28,5% (27,3 – 29,7%) ở nước có thu nhập cao, ở những nước có thu nhập thấp và trung bình là 31,5% (30,2 – 32,9%) [59].
Tại Việt Nam, đang có sự gia tăng nhanh chóng về tỷ lệ mắc THA trong những năm qua. Theo điều tra của viện Tim mạch 3 – bệnh viện Bạch Mai năm 2001-2002 ở các tỉnh phía Bắc, ghi nhận tỷ lệ THA trong cộng đồng chiếm 16,32% nhưng chỉ có 11,5% trong số đó được điều trị [45]. Năm 2012, theo nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và cộng sự, tỷ lệ THA ở người từ 25 tuổi trở lên chiếm khoảng 25,1%, trong đó nam là 28,3% và nữ là 23,1%. Tỷ lệ này tăng theo tuổi cả ở 2 giới (32,7% và 17,3%, p <0,001).
Nghiên cứu cũng cho biết tỷ lệ tăng huyết áp tại khu vực thành thị nhiều hơn nông thôn (p<0. Cùng với sự phát triển của xã hội, mô hình bệnh tật tại nước ta cũng có sự thay đổi giống như các nước phát triển. Đang có sự gia tăng nhanh chóng những bệnh mạn tính, trong đó có THA. Theo khảo sát năm 2017, tỷ lệ THA tại Việt Nam tăng hơn so với các nghiên cứu trước, chiếm khoảng 28,7% và có 37,7% người bệnh điều trị chưa đạt huyết áp mục tiêu [43].
Giữa các vùng miền, tỷ lệ THA cũng có sự khác biệt nhau. Theo nghiên cứu của Trần Quốc Cường và cộng sự (2020) tại thành phố Hồ Chí Minh có 535 (chiếm 24,3%) trong tổng số 2.203 người được khảo sát bị THA và chỉ có 52,1% trong số đó được điều trị [2]. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ THA ở người trưởng thành trên 18 tuổi chiếm 30% theo nghiên cứu của Đỗ Nam Khánh và cộng sự năm 2020 [33]. Như vậy, với dân số Việt Nam hiện nay khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA.
Chẩn đoán bệnh tăng huyết áp Dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình do cán bộ y tế đo.1: Phân độ tăng huyết áp theo Hiệp hội TMVN 2022 [13] Phân độ HA Huyết áp tâm Huyết áp tâm trương thu (mmHg) (mmHg) Bình thường <130 và <85 HA bình thường – cao và/hoặc 130 - 139 85 - 89 (Tiền tăng huyết áp) THA độ 1 140 - 159 và/hoặc 90 - 99 THA độ 2 ≥ 160 và/hoặc ≥ 100 Cơn tăng HA ≥ 180 và/hoặc ≥120 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 4 1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ 1. Nguyên nhân bệnh tăng huyết áp Phần lớn THA ở người trưởng thành (90%) là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát) [25]. Hay còn gọi là tăng huyết áp vô căn.
Huyết áp cao có xu hướng xảy ra ở người có tiền sử gia đình có bệnh THA, nam hay gặp hơn nữ, tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh THA càng nhiều. Bên cạnh đó có nhiều các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tăng huyết áp như béo phì, tiểu đường, căng thẳng, thiếu hoạt động thể chất, uống rượu, bia [1]. Chỉ có khoảng 10% trường hợp THA là có nguyên nhân (THA thứ phát) [25]. Các nguyên nhân hay gặp là: - Các bệnh lý nội tiết: U tuyến tủy, tuyến vỏ thượng thận, cường giáp, u tuyến giáp… - Các bệnh lý về thận: Bệnh lý cầu thận, suy thận mạn, xơ vữa động mạch thận gây hẹp động mạch thận… - Các bệnh lý hệ tim mạch: Hở van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ.
- Dùng thuốc: corticoid, thuốc tránh thai… - Một số nguyên nhân khác: do thai nghén, hội chứng ngừng thở khi ngủ. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị THA Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh THA, bao gồm: - Liên quan đến đái tháo đường: Ở người bị đái tháo đường (ĐTĐ), tỷ lệ người bệnh bị THA cao gấp đôi so với người không bị. Khi có cả THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần. Vì vậy, việc điều trị tốt bệnh ĐTĐ sẽ góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo [1].
Cũng theo nghiên cứu của Wei- Chuan Tsai chỉ ra điều này [49]. - Liên quan đến tăng lipid máu: Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu. Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ máu hay chính xác hơn là lipid máu. Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể.
Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây THA. Vì vậy, cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng. Trong khẩu phần ăn hàng ngày, không nên ăn mỡ, phủ tạng động vật và nên ăn rau và hoa quả tươi [1]. 5 - Liên quan đến di truyền: Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh THA có yếu tố di truyền.
Bệnh THA di truyền lại cho con cái không phải bệnh THA mà chỉ di truyền lại một số đặc điểm của cơ thể thuận lợi cho bệnh THA như thể tạng, đặc điểm hoạt động thần kinh cao cấp, nhưng chỉ kho có tác động của các yếu tố bên ngoài như những điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần, giáo dục, truyền thống giống nhau ở những người cùng gia đình của người bệnh THA mới gây ra THA. Nhìn chung tỷ lệ tăng huyết áp cao từ 2-7 lần so với quần thể chung [1]. - Liên quan đến tuổi: Càng lớn tuổi, thành mạch càng kém đàn hồi là nguyên nhân góp phần dẫn đến THA. Theo thống kê người từ 44 – 46 tuổi có nguy cơ tăng huyết áp gấp 4 lần người < 44 tuổi.
Trong khi đó so với người > 65 tuổi có nguy cơ THA gấp 2 lần [1]. - Liên quan đến giới: Nam có độ tuổi <45 có nguy cơ mắc THA cao hơn nữ, từ 45 – 64 tuổi nam và nữ có xu hướng mắc THA như nhau. Sau 65 tuổi, nữ có xu hướng mắc THA cao hơn nam [1]. - Liên quan đến thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh THA, người bép phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm THA.
Vì vậy, chế độ làm việc, ăn uống hợp lý và luyện tập thể dục thường xuyên sẽ tránh dư thừa trọng lượng cơ thể, đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ gây THA [1]. - Liên quan đến vận động thể lực: Vận động thể lực là có lợi cho hệ tim mạch, ở những người ít vận động thể lực có nguy cơ mắc THA và các bệnh tim mạch. Vận động thể dục hàng ngày, đều đặn từ 30 – 45 phút mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mắc THA và các bệnh tim mạch [1]. - Liên quan đến ăn mặn: Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp cơ thể khỏe mạnh, chế độ ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ bị THA.
Theo khuyến cáo WHO, một người trưởng thành chỉ nên nạp ít hơn 2g Natri tương đương ít hơn 5g muối mỗi ngày [1]. - Liên quan đến hút thuốc lá: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích, đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp, nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên 11 mmHg, huyết áp tâm trương lên 9 mmHg và kéo dài trong 20 -30 phút. Không hút thuốc lá là một trong những biện pháp phòng ngừa các biến chứng gây nặng thêm từ bệnh THA [1]. - Liên quan đến lạm dụng chất cồn: Lạm dụng rượu quá mức sẽ gây ra các vấn 6 đề sức khỏe như trụy tim, đột quỵ, loạn nhịp tim, THA và cá bệnh khác như ung thư, nghiện rượu, bép phì, tai nạn [44]…Ngoài ra, uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác từ đó gián tiếp gây THA.
Vì vậy, việc không uống quá nhiều rượu, bia là một khuyến cáo có cơ sở. Hàng ngày, mỗi người có thể uống khoảng 30ml rượu mạnh hoặc 50ml rượu vang hoặc 300ml bia [1]. Một số biến chứng có thể xảy ra người bệnh bị tăng huyết áp Gây tổn thương các cơ quan đích [25]. - Biến chứng tại tim: Suy tim trái, hen tim, phù phổi cấp, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim.