ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới, đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2019 số người bị đái tháo đường trên toàn thế giới là 463 triệu người trong độ tuổi 20-79 tuổi, dự đoán số người mắc bệnh sẽ tăng lên 700 triệu người vào năm 2045. Riêng khu vực tây Thái Bình Dương, IDF ước tính năm 2019 có 163 triệu người độ tuổi 20 -79 mắc bệnh Đái tháo đường, con số này sẽ tăng lên 212 triệu người vào năm 2045[69]. Theo UKPDS có đến 50% bệnh nhân xuất hiện biến chứng tim mạch ngay tại thời điểm chẩn đoán đái tháo đường típ 2.
Gần đây người ta quan tâm đến bệnh não đái tháo đường mà đặc trưng là tình trạng rối loạn thần kinh nhận thức ngày một gia tăng và tiến triển nhanh [57]. Bệnh tiến triển âm thầm và có nhiều biến chứng nguy hiểm như: biến chứng tim mạch, suy thận, thần kinh, mù lòa, biến chứng bàn chân đái tháo đường, tỉ lệ tử vong cao, khoảng 6 người tử vong/phút trên toàn cầu, mỗi 30 giây lại có 1 người đái tháo đường bị cắt cụt chi do biến chứng bàn chân đáu tháo đường, mỗi ngày có 5.000 người bị mù lòa do biến chứng mắt đái tháo đường, mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới đái tháo đường [7]. Tuy nhiên, bệnh đái tháo đường có thể được ngăn chặn nếu cải thiện được các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh. Những người bị ĐTĐ cũng có thể sống lâu và khoẻ mạnh nếu được phát hiện, quản lý và chăm sóc tốt tình trạng bệnh của mình [6].
Theo IDF, 79,4% người mắc đái tháo đường đang sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình do sự tăng lên nhanh chóng của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, của lối sống ít vận động và sự đô thị hóa. Tại các nước này, tỷ lệ người béo phì, đái tháo đường ngày càng tăng lên, trong khi đó lứa tuổi mắc bệnh ngày càng trẻ hóa. Đây thực sự là hồi chuông báo động đối với các nước đang phát triển [68]. 2 Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế, sự gia tăng nhanh của quá trình đô thị hóa, lối sống ít vận động, tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, mô hình bệnh tật đang thay đổi, từ các bệnh lây nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm.
Tỉ lệ đái tháo đường cũng đang gia tăng nhanh chóng. Theo kết quả điều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, trong vòng 8 năm từ năm 2012 đến 2020 tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng 30 - 69 tuổi đã tăng từ 5,4% lên 7,3%[5]. Theo IDF, năm 2019 ước tính Việt Nam có hơn 3,8 triệu người trong độ tuổi 20 - 79 mắc đái tháo đường tương đương tỷ lệ 6% [69]. Kiến Hưng là một phường thuộc quận Hà Đông, Hà Nội, là một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh nhất của quận, đời sống người dân ngày càng cao, tình hình đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến sự thay đổi lối sống, thói quen ăn uống.
Tất cả sự thay đổi đó đã hình thành những hành vi nguy cơ làm gia tăng bệnh đái tháo đường. Với mong muốn tìm ra tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ bệnh trong cộng đồng chưa được phát hiện tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông thì câu hỏi đạt ra là: thực trạng tháo đường típ 2 tại phường Kiến Hưng như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến thực trạng đái tháo đường típ 2 của người dân? Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại phường Kiến Hưng để trả lời câu hỏi đó. Với những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng đái tháo đường típ 2 và một số yếu tố liên quan của người dân từ 40 tuổi trở lên tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội năm 2023” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng đái tháo đường típ 2 của người dân từ 40 tuổi trở lên tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội năm 2023.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng đái tháo đường típ 2 của đối tượng nghiên cứu. Thư viện ĐH Thăng Long 3 CHƢƠNG 1. Định nghĩa và chẩn đoán bệnh đái tháo đƣờng, tiền đái tháo đƣờng 1.1 Định nghĩa đái tháo đƣờng Từ những năm 1550 trước công nguyên, mô tả đầu tiên giống với ĐTĐ đã được tìm thấy trong giấy Ebers. Thuật ngữ “đái tháo” lần đầu tiên được đặt ra bởi thầy thuốc Aretaeus của Hi Lạp.
Từ thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, bệnh cũng được ghi nhận ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản là một bệnh với tiểu ngọt và sau 1 thế kỷ Dobson đã chứng minh vị ngọt là do đường [21], [73]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization-WHO) thì đái tháo đường (ĐTĐ) là: Một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/ hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do liên quan đến sự suy giảm trong bài tiết và hoạt động của insulin [38]. Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (American Association of Diabetes - ADA) đã đưa ra định nghĩa về ĐTĐ: Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng glucose máu; (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbohydrat, lipid và protein; (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác [48].2 Định nghĩa tiền đái tháo đƣờng Tiền đái tháo đường là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi làm xét nghiệm glucose máu lúc đói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose. Tiền ĐTĐ bao gồm rối loạn glucose máu lúc đói (RLGMLĐ) và rối loạn dung nạp glucose (RLDNG) [45][82].
RLGMLĐ và RLDNG là giai đoạn trung gian của sự bất thường chuyển hóa glucose giữa bình thường và đái tháo đường [78] 1.3 Chẩn đoán đái tháo đƣờng, tiền đái tháo đƣờng Chẩn đoán ĐTĐ theo Quyết định số 5481/QĐ-BYT ngày 30/12/2020 của Bộ Y tế về việc Ban hành tài liệu chuyên môn “ Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2” như sau[14]: 4 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất.
Chẩn đoán tiền đái tháo đường Theo Quyết định 3087/QĐ-BYT ngày 16/7/2020 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “ Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tiền đái tháo đường” [13]. Chẩn đoán tiền ĐTĐ khi có một trong các rối loạn sau đây: a) Rối loạn glucose máu lúc đói (impaired fasting glucose: IFG): Glucose huyết tương lúc đói từ 100 - 125 mg/dL (5,6 - 6,9 mmol/L). Phân loại đái tháo đƣờng Theo Quyết định số 5481/QĐ-BYT của Bộ Y tế [14], Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính: a) Đái tháo đường típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó).
d) Các loại ĐTĐ đặc biệt do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 1. Đái tháo đƣờng típ 1 Đái tháo đường típ 1 do tế bào beta bị phá hủy nên BN không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (típ 1A), 5% vô căn (típ 1B). BN bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên.
BN cần insulin để ổn định glucose huyết. Đái tháo đƣờng típ 2 Đái tháo đường típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Ít nhất ở giai đoạn đầu hoặc có khi suốt cuộc sống BN ĐTĐ típ 2 không cần insulin để sống sót.
Có nhiều nguyên nhân của ĐTĐ típ 2 nhưng không có một nguyên nhân chuyên biệt nào. BN không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số BN có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to. Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô m cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào m , tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích).
Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào beta bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào beta sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Tình trạng đề kháng insulin có thể cải thiện khi giảm cân, hoặc dùng một số thuốc nhưng không bao giờ hoàn toàn trở lại bình thường. Đái tháo đƣờng thai kỳ ĐTĐ thai kỳ là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó. Nếu phụ nữ có thai 3 tháng đầu được phát hiện tăng glucose huyết thì chẩn đoán là ĐTĐ chưa được chẩn đoán hoặc chưa được phát hiện và dùng tiêu chí chẩn đoán như ở người không có thai.
Đái tháo đƣờng thứ phát và thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ: a) Khiếm khuyết trên nhiễm sắc thể thường, di truyền theo gen trội tại tế bào beta.