Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU NHÃN CẦU Nhãn cầu nằm ở 1/3 trước ổ mắt và nhô ra khỏi thành ổ mắt, có hình một khối cầu không đều: đường kính trước sau hơi lớn hơn đường kính trên dưới. Nhìn trên thiết đồ ngang qua nhãn cầu, có thể thấy nhãn cầu được cấu tạo bởi ba lớp vỏ bao bên ngoài, bên trong là thấu kính và các phòng của nhãn cầu [6]. Các lớp vỏ của nhãn cầu Từ ngoài vào trong có ba lớp vỏ của nhãn cầu là: lớp xơ, lớp mạch, lớp võng mạc.
Lớp xơ Lớp xơ nằm ngoài cùng, là lớp bảo vệ nhãn cầu, được chia hai phần: giác mạc và củng mạc − Giác mạc là phần lồi, trong suốt, chiếm 1/6 diện tích bề mặt phía trước của nhãn cầu. Nhìn từ trước, chu vi giác mạc có hình hơi elip, đường kính trên mặt sau của giác mạc theo chiều ngang khoảng 11,7mm và theo chiều dọc khoảng 10,6mm. Giác mạc có cấu tạo năm lớp từ trước ra sau là: thượng mô trước giác mạc, lá giới hạn trước, chất đệm giác mạc, lá giới hạn sau, nội mô phòng trước. − Củng mạc có màu trắng đục, chiếm 5/6 phía sau của lớp xơ, có vai trò chính bảo vệ cho nhãn cầu.
Mặt ngoài củng mạc trắng, nhẵn, có kết mạc phủ phía trước (thường gọi là tròng trắng). Mặt trong củng mạc tiếp xúc với màng mạch. Gần cực sau, củng mạc bị thủng nhiều lỗ để các sợi của thần kinh thị giác đi qua nên gọi là mảnh sàng củng mạc, đây là nơi yếu nhất và có thể lồi ra ngoài trong tăng nhãn áp.1: Thiết đồ ngang qua nhãn cầu cho thấy các thành phần cấu tạo nhãn cầu (Nguồn: Giải phẩu học sau đại học 2011 [6] ) Củng mạc được cấu tạo bởi ba lớp từ ngoài vào trong là lá trên củng mạc, chất đệm củng mạc, lá sắc tố củng mạc. Củng mạc liên tiếp với giác mạc tại chổ tiếp nối củng mạc - giác mạc.
Ở mặt trong chỗ tiếp nối này có rãnh củng mạc, thành sau trong của rãnh gọi là cựa củng mạc, trong rãnh có xoang tĩnh mạch củng mạc. Thành trong của xoang tĩnh mạch củng mạc tiếp giáp với thủy dịch trong phòng trước, thành này được cấu tạo bằng mô bè lỏng lẻo gọi là lưới bè, phía trước lưới bè liên tiếp với lá giới hạn sau và nội mô giác mạc (lâm sàng gọi nơi tiếp giáp là đường Schwalbe), phía sau hầu hết các sợi của lưới bè bám vào mặt trước ngoài của cựa củng mạc, giữa các sợi của lưới bè là những khoang mà qua đó 5 thủy dịch thấm từ phòng trước vào xoang tĩnh mạch củng mạc, rồi theo các kênh góp nước (tĩnh mạch nước) vào tĩnh mạch mi trước. Củng mạc được cấp máu bởi động mạch mi trước ngắn và mi sau ngắn, tĩnh mạch đổ về tĩnh mạch mi trước, cảm giác bởi các dây mi.2: Chỗ tiếp nối củng giác mạc (Nguồn: Giải phẫu học sau đại học, 2011 [6] ) 1. Lớp mạch Lớp mạch là lớp giữa, từ sau ra trước gồm: màng mạch, thể mi và mống mắt.
− Màng mạch là một lớp mỏng, màu nâu sẫm, rất giàu mạch máu, chiếm 2/3 sau của lớp mạch và lót hầu hết mặt trong củng mạc. Màng mạch được cấu tạo bởi các tế bào sắc tố, các tiểu động tĩnh mạch và đám rối mao mạch dầy đặc. [6] − Thể mi là phần dầy lên của lớp mạch, phía sau tiếp nối với màng mạch, phía trước tiếp nối với mống mắt ở ngay sau nơi tiếp nối giác mạc - củng mạc, mặt ngoài, thể mi tiếp xúc với mặt trong củng mạc, mặt sau trong thể mi 6 có hai phần: vành mi và vòng mi. Vành mi là một vòng tròn kéo từ cựa củng mạc hướng ra sau, do 70 - 80 gờ lồi dọc tạo nên gọi là mỏm mi.
Mỏm mi tiết ra thủy dịch. Vòng mi có hình vành khuyên, nằm phía sau, hướng ngang, do các sợi cơ trơn tạo nên gọi là cơ thể mi. Các dây chằng treo thấu kính của thể mi chạy tới hòa lẫn vào màng đáy của lớp thượng mô thể mi.[6] − Mống mắt còn gọi là tròng đen, nhìn từ trước có hình vành khăn, nằm theo mặt phẳng đứng ngang. Đường kính trung bình khoảng 12,0mm; dày 0,5mm.
Mống mắt có hai bờ: + Bờ trung tâm hay bờ con ngươi giới hạn một lỗ tròn ở giữa gọi là con ngươi hay lỗ đồng tử, có đường kính thay đổi để kiểm soát lượng ánh sáng đi vào mắt, và do các cơ thắt đồng tử và cơ dãn đồng tử của mống mắt điều khiển. + Bờ ngoại biên hay bờ thể mi liên tiếp với thể mi và giác mạc bởi dây chằng lược, và hợp với giác mạc một góc gọi là góc mống mắt - giác mạc. Mống mắt có hai mặt: mặt trước và mặt sau. Mặt trước có nhiều nếp mống mắt.
Cách lỗ đồng tử khoảng 1,5mm có một vòng hình nan hoa (do các tiểu động mạch nối với nhau tạo thành) chia mặt trước mống mắt làm hai vùng hình tròn đồng tâm: vòng nằm sát lỗ đồng tử là vòng mống mắt nhỏ (vùng đồng tử), vòng ngoài là vòng mống mắt lớn (vùng thể mi). [6] Góc mống mắt - giác mạc (lâm sàng thường gọi là góc tiền phòng) có hai thành và một đỉnh. Thành trước là cựa củng mạc, lưới bè và đường Schwalbe. Thành sau là nếp mống mắt đầu tiên tính từ bờ thể mi.
Đỉnh góc là phần cơ thể mi ngay trước vị trí bờ thể mi của mống mắt liên tiến với thể mi. [6] Mống mắt nằm giữa giác mạc và thấu kính, ngâm mình trong thủy dịch. Vì vậy, mống mắt phân chia phần trước thấu kính thành hai phòng: phòng trước giới hạn từ mặt sau giác mạc đến mặt trước mống mắt (mà nó gặp nhau 7 ở góc mống mắt - giác mạc), và phòng sau giới hạn từ mặt sau mống mắt đến mặt trước thấu kính. Hai phòng này thông nhau qua lỗ đồng tử.
Mống mắt có cấu tạo từ trước ra sau gồm: + Nội mô tiền phòng liên tục với nội mô của giác mạc. + Chất đệm mống mắt: có cơ trơn là cơ thắt đồng tử và cơ dãn đồng tử. Giữa các tế bào trong mống mắt có những khoảng trống để tế bào có thể trao đổi dịch dễ dàng với phòng trước trong quá trình co hay dãn của mống mắt. + Thượng mô mống mắt: gồm 2 lớp tế bào đều chứa sắc tố.
Lớp tế bào bề mặt có ngoại vi liên kết với dây chằng lược và bè lưới ở góc mống mắt - giác mạc, ở chu vi lỗ đồng tử thì tạo thành viền sắc tố, chúng sắp xếp tạo thành những gợn sóng hướng tâm tạo điều kiện cho thủy dịch di chuyển từ phòng sau ra phòng trước.3: Thể mi - Mống mắt (Nguồn: Giải phẫu học sau đại học, 2011 [6]) 8 1. Lớp võng mạc Võng mạc là lớp trong, đây là lớp thần kinh cảm giác của nhãn cầu. Gồm võng mạc bịt và võng mạc thị giác, nơi chuyển tiếp giữa hai võng mạc này là một đường hình răng cưa gọi là miệng thắt võng mạc. − Võng mạc bịt gồm võng mạc mống mắt và võng mạc thể mi là lớp võng mạc không có tế bào thần kinh phủ mặt sau mống mắt và thể mi.
− Võng mạc thị giác là phần võng mạc phủ mặt trong màng mạch. Khi quan sát bằng kính soi đáy mắt, có thể thấy các mạch máu của võng mạc và hai khu vực đặc biệt là điểm vàng và gai thị. Các môi trường khúc xạ của mắt Các thành phần của mắt có chức năng truyền và khúc xạ ánh sáng là giác mạc, thủy dịch, thấu kính và thể thủy tinh. Thủy dịch Thủy dịch được các tế bào hình lập phương của lớp thượng mô thể mi tiết ra vào phòng sau, rồi đi ra phòng trước qua lỗ đồng tử, sau đó thấm vô các khoang bè lưới để vào xoang tĩnh mạch củng mạc ở góc mống mắt - giác mạc.
Thủy dịch có hai thành phần là nước chiếm 98,75% và 1,25% là các chất hòa tan như: albumin, globulin (từ máu sang, chiếm 0,02%), glucose, axid lactic, vitamine C, axid amin, enzym, mucopolysaccarid, các chất điện giải … Thủy dịch đảm nhận nhiệm vụ duy trì sự trao đổi chất của các môi trường trong suốt không mạch máu, giác mạc, thấu kính, thể thủy tinh. Thủy dịch cũng duy trì và điều hòa áp suất tương đối cao trong mắt (khoảng 17mmHg) thông qua sự cân bằng giữa sản xuất và thoát đi thủy dịch, do đó giữ được sự ổn định các khoảng cách của các phòng trong nhãn cầu. Bất kỳ lý do nào làm cản trở sự thoát thủy dịch vào xoang tĩnh mạch củng mạc cũng sẽ dẫn đến tăng áp lực nội nhãn gọi là bệnh tăng nhãn áp [3]. Thấu kính Thấu kính là một khối trong suốt nằm giữa mống mắt và thể thủy tinh.
Thấu kính có hình của một thấu kính hội tụ với hai mặt lồi, mặt sau cong lồi hơn mặt trước. Mặt sau thấu kính tiếp xúc với hố kính của thể thủy tinh. Mặt trước tiếp xúc với bờ tự do của mống mắt, nhưng càng ra xa trục thấu kính thì khe giữa thấu kính và mống mắt càng tăng để tạo nên phòng sau của nhãn cầu. Thấu kính được bao quanh bởi các mỏm mi và gắn vào chúng bằng những sợi vòng gọi là dây treo thấu kính.
Các dây treo này giữ thấu kính tại chỗ và truyền lực kéo dãn thấu kính. Thể thủy tinh Thể thủy tinh là một khối chất keo trong suốt nằm trong phòng sau cùng, chiếm khoảng 4/5 thể tích nhãn cầu. Phía trước có một vùng lõm sâu gọi là hố kính. Thể thủy tinh cấu tạo gồm một màng bao bên ngoài gọi là màng kính, bên trong là dịch kính [6].
NHÃN ÁP Nhãn áp là áp lực của chất lỏng nội nhãn lên củng mạc. Sự lưu thông của thủy dịch quyết định nhãn áp. Không có nhãn áp thì nhãn cầu không có một hình thể nhất định, điều tối cần thiết về phương diện quang học. Nhãn áp điều chỉnh sự vận mạch ở võng mạc [3].
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhãn áp − Thủy dịch: Là yếu tố động trong nhãn áp, được tính theo công thức Goldmann [3]. Theo Goldmann: Po= R.D+ Pv Po: Nhãn áp Pv: Áp lực tĩnh mạch thượng củng mạc 9 - 10mmHg. R: Trở lưu, yếu tố quan trọng trong sinh lý bệnh Glaucoma D: Lưu lượng của thủy dịch 1,9mm3 10 − Độ đàn hồi của củng mạc và giác mạc: Trong glaucoma bẩm sinh giác mạc dãn rộng ra. − Thấu kính: Thấu kính đục phồng tăng thể tích có thể gây tăng nhãn áp.
− Thể thủy tinh: Có xu hướng hút nước, tăng thể tích gây tăng nhãn áp. − Tuần hoàn máu: Lượng máu lưu thông trong hắc võng mạc chịu ảnh hưởng của nhãn áp.