CHƯƠNG 1. Giải phẫu dạ dày [13], [35] Dạ dày là phần giãn to nhất của ống tiêu hóa và là đoạn ống tiêu hóa ở giữa thực quản và ruột non. Nó nằm ở vùng thượng vị, rốn và hạ sườn trái của bụng. Dạ dày rỗng có hình chữ J với 2 thành trước và sau, hai bờ cong bé và lớn, và hai đầu là tâm vị ở trên và môn vị ở dưới.
Các phần của dạ dày kể từ trên xuống dưới là phần tâm vị, đáy vị, thân vị và phần môn vị. - Phần tâm vị: là một vùng rộng khoảng 3 đến 4cm, nằm kế cận thực quản và bao gồm cả lỗ tâm vị. Lỗ này thông thực quản với dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạc. - Đáy vị: là phần phình to hình chỏm cầu, ở bên trái lỗ tâm vị và ngăn cách với thực quản bụng bởi khuyết tâm vị.
Đáy vị thường chứa không khí, nên dễ nhìn thấy trên phim X quang. - Thân vị: nối tiếp phía dưới đáy vị, hình ống, cấu tạo bởi hai thành và hai bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị và giới hạn dưới là mặt phẳng qua khuyết góc của bờ cong vị bé. - Phần môn vị: Mặt ngoài được đánh dấu bởi tĩnh mạch trước môn vị.
Ở giữa môn vị là lỗ môn vị, thông với hành tá tràng. Lỗ môn vị nằm ở bên phải đốt sống thắt lưng 1. Môn vị gồm có hai phần: + Hang môn vị: tiếp nối với thân vị chạy sang phải và hơi ra sau. + Ống môn vị: thu hẹp lại giống cái phễu và đổ vào môn vị.
- Bờ cong nhỏ: có mạc nối nhỏ bám vào, bên trong có vòng động mạch bờ cong vị bé và chuỗi hạch bạch huyết. Bờ cong vị bé liên quan với động mạch chủ bụng, động mạch thân tạng và đám rối tạng. - Bờ cong lớn: + Đoạn đáy vị áp sát vòm hoành trái và liên quan với lách. 4 + Đoạn có dây chằng hay mạc nối vị lách chứa các động mạch vị ngắn.
+ Đoạn có mạc nối lớn chứa vòng động mạch bờ cong vị lớn Hội nghiên cứu Ung Thư Nhật Bản chia dạ dày thành 3 vùng cụ thể. Ba vùng này được xác định bằng cách dung 2 điểm cách điều nhau chia bờ cong lớn và bờ cong bé rồi nối 2 điểm này lại với nhau. Vị trí của khối u dạ dày được mô tả theo vùng: vùng đầu tiên là vùng chứa phần lớn khối u, ví dụ U, M, L hoặc UM, ML, UML, nếu ăn lan lên thực quản thì mô tả khối u nằm ở vùng UE. U (Upple) : Phần ba trên M (Middle) : Phần ba giữa L (Lower) : Phần ba dưới E (Esophagus): Thực quản D (Duodenum): Tá tràng Hình 1.
Phân chia dạ dày thành 3 vùng theo nghiên cứu của Nhật Bản (Nguồn: Gastric Cancer, 2006) 1. Phẫu thuật cắt dạ dày Phẫu thuật cắt dạ dày là một phương pháp điều trị ngoại khoa, được chỉ định trong các trường hợp chấn thương hoặc có bệnh lý về dạ dày (hoặc lành tính hoặc ác tính). Phẫu thuật cắt dạ dày bao gồm cắt dạ dày một phần hoặc cắt toàn bộ dạ dày [43]. Phẫu thuật cắt dạ dày một phần đã được Pean thực hiện lần đầu tiên vào ngày 09/04/1879 để điều trị cho người bệnh ung thư môn vị.
Người bệnh đã chết vào ngày thứ 5 sau mổ. Sau đó Rydyfier thực hiện lại vào ngày 16/11/1880 và Billroth thực hiện vào ngày 29/01/1881 với kết quả tốt [39]. Ca phẫu thuật cắt bỏ dạ dày cho người bệnh loét dạ dày tá tràng thành công đầu tiên được thực hiện với Ludwik Rydygier, vào năm 1881 [36]. Có hai loại phẫu thuật cắt dạ dày chính: Thư viện ĐH Thăng Long 5 - Cắt dạ dày bán phần là cắt bỏ một phần của dạ dày, bao bồm: Cắt cực dưới dạ dày, cắt dạ dày trung tâm, cắt cực trên dạ dày, cắt tạo hình dạ dày hình ống hay cắt dạ dày hình chêm.
- Cắt dạ dày toàn bộ là cắt bỏ hoàn toàn dạ dày. Chỉ định phẫu thuật cắt dạ dày Theo Weledji.P [43], phẫu thuật cắt dạ dày thường được chỉ định trong các trường hợp sau: - Viêm loét dạ dày, tá tràng biến chứng: hẹp môn vị, chảy máu, thủng dạ dày… - Ung thư dạ dày - Điều trị béo phì 1. Phương pháp phẫu thuật cắt dạ dày Có 2 phương pháp: - Phẫu thuật mở: Phẫu thuật viên mở qua thành bụng để tiếp cận vào dạ dày và tiến hành phẫu thuật. Phương pháp này dễ thực hiện, vết mổ lớn.
Người bệnh sẽ phải trải nghiệm đau và sự liền vết thương kéo dài. - Phẫu thuật nội soi: Là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu bằng dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng, kết quả các vết mổ nhỏ, giảm đau sau mổ, tăng tính thấm mỹ và thời gian phục hồi thanh hơn. Biến chứng sau phẫu thuật cắt dạ dày Biến chứng gần sau mổ là những biến chứng xảy ra trong mổ và trong vòng 30 ngày đầu sau mổ, biến chứng này được các Bác sỹ điều trị ghi nhân ở hồ sơ, tờ điều trị, tờ hội chẩn, phiếu phẫu thuật lại. Chảy máu sau mổ + Chảy máu trong ổ bụng sau mổ: Chảy máu thường diễn ra trong vòng 24 giờ đầu sau mổ.
BN sau mổ được theo dõi dẩn lưu xác định nước máu hay máu đỏ tươi chảy ra hoặc máu chảy qua vết mổ, xét nghiệm số lượng hồng cầu, 6 lượng hematocrit giảm, siêu âm ổ bụng sau mổ, chụp cắt lớp vi tính để xác định tổn thương…[28] + Chảy máu miệng nối: biểu hiện sau khi mổ máu đỏ tươi chảy nhiều qua sonde dạ dày, mạch nhanh, huyết áp tụt, xét nghiệm có các chỉ số về máu giảm. Cũng có khi huyết áp tụt mà không nôn máu vì máu động bịt chặt dạ dày, hoặc máu chảy xuống ruột nên khi ỉa phân đen mới phát hiện. Xử trí điều trị nội tích cực, rửa dạ dày, truyền máu khi thiếu máu, nội soi thực quản - dạ dày để tìm điểm chảy nếu có thể, nếu không cầm được máu xét mổ lại [3], [38]. Viêm phúc mạc sau mổ Thường xuất hiện muộn hơn vào khoảng ngày thứ 3 đến hết tuần đầu sau mổ.
Bao gồm viêm phúc mạc toàn thể hay tạo ổ áp xe. + Hậu phẫu bệnh nhân có đau bụng, sốt cao, suy kiệt, bụng chướng, đang có trung tiện hiện không còn, khám bụng đau, đau nhất vùng dưới sườn trái và có cảm ứng phúc mạc có thể có, dịch tiêu hóa chảy qua dẫn lưu hoặc vết mổ. + Áp xe tồn dư: Thường gặp áp xe dưới hoành vì phẫu thuật cắt dạ dày chủ yếu thực hiện ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang. Điển hình của áp xe dưới hoành là đau dưới bờ sườn, sốt cao dao động, ấn đau hoặc co cứng, phản ứng vùng dưới sườn.
Bạch cầu tăng cao [3]. Rò tiêu hóa Là do bục mỏm tá tràng hoặc miệng nối song máy mắn hơn là dịch tiêu hóa thoát ra ngoài qua ống dẫn lưu, lỗ đặt dẫn lưu hoặc qua vết mổ mà không tạo thành áp xe hoặc viêm phúc mạc toàn thể. Điều trị bảo tồn rò tiêu hóa bằng bồi phụ nước, điện giải, nuôi dưỡng tốt, làm khô đường rò, chống loét …hầu hết rò sẽ tự liền. Nếu bảo tồn không có kết quả phải mổ lại đóng rò [37], [37].
Một số biến chứng khác + Viêm tụy cấp sau mổ có thể gặp khi phẫu tích cắt phúc mạc tạng của tụy trong khi nạo hạch, hoặc có thể làm tổn thương các mạch máu nuôi dưỡng tụy Thư viện ĐH Thăng Long 7 như động mạch vị - tá tràng và các nhánh của tụy, và hoặc “đụng chạm” nhiều khi đóng mỏm tá tràng. Biểu hiện bằng đau bụng sớm sau mổ, tình trạng sốc, thử Amylase niệu và Amylase máu tăng cao. Xử trí điều trị hồi sức nội khoa chống sốc, giảm men tụy [40]. + Rò tụy là biến chứng có thể gặp ở bệnh nhân cắt dạ dày toàn bộ, cắt dạ dày mở rộng.
Theo định nghĩa rò tụy của hiệp hội các nhà phẫu thuật tụy (ISGPS: International study Group of Pancreatic Surgery) như sau: dịch dẫn lưu ổ bụng từ ngày thứ 3 trở đi có nồng độ amylase cao gấp 3 lần nồng độ amylase máu và số lượng > 50ml trong 24 giờ [21]. Lâm sàng của rò tụy có thể gặp các triệu chứng như: đau bụng, bụng chướng hơi do liệt ruột, bí trung đại tiện, chậm làm rỗng dạ dày. Toàn thân sốt > 38ºC, vẻ mặt nhiễm trùng, công thức máu bạch cầu tăng > 10 000/mm³. Siêu âm hoặc chụp cắt lớp ổ bụng có thể xác định được ổ dịch cạnh miệng nối tụy hoặc có sự thông thương của miệng nối tụy với ổ dịch trong ổ phúc mạc, chẩn đoán xác định nhờ chụp đường rò hoặc trong khi mổ lại [3].
+ Nhiễm trùng vết mổ: Nhiễm khuẩn vết mổ là hiện tượng nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ lúc mổ đến 30 ngày sau mổ đối với phẫu thuật không có cấy ghép và đến 1 năm sau mổ với phẫu thuật cấy ghép bộ phận giả. Phát hiện bằng thay băng vết mổ hàng ngày, cấy vi khuẩn làm xét nghiệm vi sinh [24]. + Viêm phổi sau mổ: biểu hiện tình trạng sốt ho đau ngực khó thở sau mổ, chụp X-Quang ngực kiểm tra, soi phế quản. Đặc điểm người bệnh sau phẫu thuật cắt dạ dày - Mức độ tỉnh táo của bệnh nhân vì có gây mê toàn thân.
Cần nhận định có chảy máu miệng nối, mỏm tá tràng? có buồn nôn không?, trung đại tiện chưa?, có đau bụng không?. Khó thở hay đau tức ngực không?. quan sát tình trạng da, niêm mạc. 8 Rất nhiều vị trí vết mổ trên thành bụng, điều dưỡng cần biết vị trí, tình trạng vết mổ hở, căng, chỉ thép, khâu hở, khâu thưa….
Tình trạng bụng trướng, đau, nôn ói, khám bụng gồng cứng, có phản ứng phúc mạc không, nghe nhu động ruột. Hầu như các phẫu thuật tiêu hoá đều đặt ống thông dạ dày vì nó rất quan trọng trong và sau phẫu thuật; điều dưỡng nhận định màu sắc, số lượng, áp lực hút, nghe nhu động ruột [29]. - Tình trạng vết mổ để đánh giá tình trạng chảy máu, nhiễm trùng. - Quan sát các ống dẫn lưu xem ống có bị tắc không và đánh giá tính chất dịch hay máu của ống dẫn lưu.
- Quan sát ống xông dạ dày: màu sắc, số lượng, tính chất, có máu không? - Đo dấu hiệu sống mỗi 15 phút cho đến khi thật ổn định thì theo dõi hằng giờ. - Tiếp tục theo dõi các ống dẫn lưu, rút ống dẫn lưu khi hết tác dụng thường từ 24 giờ đến 4 ngày.