CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa, phân loại 1. Định nghĩa Định nghĩa huyết áp: Theo Bộ Y tế huyết áp là số đo về lực tác động của máu lên thành động mạch. Huyết áp phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước cũng như độ đàn hồi của thành động mạch (17).
Tăng huyết áp: Theo Tổ chức y tế thế giới, một người trưởng thành 18 tuổi trở lên gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg (18). Tuân thủ điều trị THA: Dựa trên định nghĩa của Hayner và Rand có sử đổi (19) Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: Tuân thủ điều trị là trong phạm vi hành vi của một người dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống đúng với những khyến cáo phù hợp của Bộ Y tế. Bối cảnh dịch Covid 19 là hoàn cảnh xã hội đang được công bố có dịch covid và đang được thực hiện các biện pháp phòng ngừa kiểm soát dịch Covid -19. Phân loại tăng huyết áp Theo Bộ Y tế chẩn đoán THA dựa vào chỉ số huyết áp đo được Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo phác đồ của Hội Tim mạch Việt Nam (20) Phân độ HA HATT (mmHg) HATTr (mmgHg) HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường* 120 – 129 và/hoặc 80 - 84 Bình thường cao** 130 – 139 và/hoặc 85 - 89 THA độ 1 (nhẹ) 140 – 159 và/hoặc 90 - 99 THA độ 2 (trung 160 – 179 và/hoặc 100 - 109 bình) THA độ 3 (nặng) ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn ≥ 140 và/hoặc < 90 độc Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HA tâm thu hay tâm trương cao nhất.
THA tâm thu đơn độc xếp loại theo mức HATT. ** Tiền tăng huyết áp: khi HATT > 120 -139 mmHg và HATTr > 80- 89 mHg. 5 Những người không trong tình trạng có bệnh cấp tính , không dùng các loại thuốc hạ áp thì được áp dụng các tiêu chuẩn trên. Điều trị tăng huyết áp tại Trạm y tế xã Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, bệnh tăng huyết áp là bệnh mạn tính, cần phải được theo dõi, điều trị đúng, đủ hàng ngày và trong thời gian dài (21).
Mục tiêu điều trị THA (20): Chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh suất và tử suất tim mạch, tử vong chung. Xác định ngưỡng HA ban đầu cần điều trị và đích HA cần đạt theo cá nhân hóa: dựa vào độ THA, bệnh phối hợp và nhóm tuổi. Điều trị kiểm soát cùng lúc tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm và các bệnh đồng mắc theo các khuyến các hiện hành. Xác định các yếu tố càn trở sự tuân thủ điều trị.
Về tuân thủ điều trị của người bệnh cũng như để đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh bao gồm các phương pháp sau đây: * Điều trị tăng huyết áp sử dụng thuốc Tùy theo mức độ huyết áp và nguyên nhân của tăng huyết áp, người bệnh sử dụng thuốc để giúp hạ huyết áp (21). Một số nhóm thuốc hạ HA thường được dùng là: nhóm lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, chẹn beta giao cảm, chẹn alpha giao cảm, tác động lên hệ giao cảm trung ương. Để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan, ngoại trừ các tình huống cấp cứu thì không nên hạ HA quá nhanh. Một số nguyên tắc lựa chọn thuốc HA: người bệnh đã quen dùng với thuốc điều trị THA cũ, tác dụng không mong muốn, khoảng tiền mà người bệnh phải chi trả để sử dụng thuốc… * Điều trị tăng huyểt áp bằng biện pháp thay đổi lối sống Theo chẩn đoán và điều trị THA của Bộ Y tế (21), trường hợp tăng huyết áp giai đoạn 1 mà chưa có biến chứng, không có các tổn thương đến cơ quan đích, người bệnh được khuyến cáo khởi đầu việc điều trịkhởi đầu việc điều trị bằng cách tích cực thay đổi lối sống (có chế độ ăn uống hợp lý, tích cực giảm cân, hạn chế sử dụng bia/rượu, không hút thuốc lá…) trước khi nghĩ đến việc dùng thuốc, các nghiên cứu 6 cũng cho thấy sự đáp ứng chuẩn sau 4 – 6 tháng đầu thực hiện.
Trường hợp biện pháp thay đổi lối sống không đáp ứng lúc này mới kết hợp với việc dùng thuốc. Cách đo lường tuân thủ điều trị THA Tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng hai phương pháp: Phương pháp đo lường trực tiếp và phương pháp đo lường gián tiếp. Phương pháp đo lường trực tiếp: Như định lượng nồng độ thuốc trong máu và nước tiểu, dùng chất đánh dấu thuốc, quan sát bệnh nhân trực tiếp dùng thuốc. Những phương pháp này giúp đo lường chính xác sự tuân thủ trong dùng thuốc nhưng lại không khả thi khi áp dụng thực tế trên số lượng bệnh nhân lớn hoặc điều trị ngoại trú tại nhà, nhất là trong thời gian dài.
Phương pháp đo lường gián tiếp: Phương pháp thường được dùng như đếm viên thuốc, dùng dụng cụ theo dõi việc mở các lọ thuốc điện tử như Medication Events Monitorig System. Tuy nhiên một phương pháp áp dụng phổ biến hơn là bệnh nhân tự tường thuật hoặc ghi lại nhật ký dùng thuốc. Tuy vậy, phương pháp bệnh nhân tự khai báo thông qua phỏng vấn và ghi nhật ký dùng thuốc có thể làm cho kết quả cao hơn thực tế. Qua tham khảo nhiểu nghiên cứu đã thực hiện trước đây như nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền tại Hải Dương (2018) (1), nghiên cứu của Đỗ Duy Tân ở Hòa Bình (2019) (2), nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Hạnh (2020) ở Hải Phòng (3) cho thấy bệnh nhân được xem là tuân thủ điều trị khi đồng thời đạt 2 tiêu chí là: tuân thủ điều trị thuốc lâu dài, liên tục theo hương dẫn của nhân nhân y tế và tuân thủ thay đổi lối sống (có chế độ ăn uống hợp lý, hạn chế sử dụng các chất kích thích như bia, rượu, thuốc lá, thường xuyên tập thể dục).
Vì vậy nên trong nghiên cứu này học viên đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp gồm 2 yếu tố là tuân thủ dùng thuốc và thay đổi lối sống. Đo lường tuân thủ điều trị thuốc Trong nghiên cứu này, học viên sử dụng phương pháp tự khai báo, sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – Medication adherence questionnare – Moríky 8) là một thang đo được áp dụng rộng rãi hơn cả rất nhiểu nghiên cứu tuân thủ điều trị các bệnh mãn tính, đặc biệt là tăng huyết áp. Thang đo gồm 8 mục để đo lường tuân thủ điều trị thuốc hạ huyết áp. Bao gồm 8 cầu hỏi về hành vi uống thuốc của người bệnh được đưa ra để người bệnh tự trả lời.
Nguyên tắc của biện pháp này là người 7 bệnh được coi như là tuân thủ thuốc khi không quên uống thuốc, không quên mang quên mang thuốc đi xa nhà, không khó khăn khi nhớ uống thuốc, không cảm thấy phiền toái vì ngày nào cũng phải uống thuốc hạ huyết áp, không tự ý ngừng thuốc do tác dụng phụ của thuốc hoặc khi huyết áp được kiểm soát (22). Thang đánh giá tuân thủ điều trị thuốc STT Các mục của thang đánh giá tuân thủ điều trị thuốc huyết áp Từ lúc bắt đầu điều trị thuốc huyết áp, Ông/bà có quên tái khám lần nào không? Từ lúc bắt đầu điều trị, có khi nào Ông/Bà quên uống thuốc huyết áp không? Trong hai tuần qua Ông/Bà có quên uống thuốc huyêt áp không? Khi cảm thấy khó chịu do uống thuốc, Ông/Bà có tự ý ngừng thuốc huyết áp không? Khi Ông/Bà đi xa nhà, có khi nào quên mang thuốc theo không? Ngày hôm qua Ông/Bà có quên uống thuốc huyết áp không? Khi thấy kết quả xét nghiệm máu đã được kiểm soát, Ông/Bà có bao giờ tự ngừng uống thuốc huyết áp không? Ông/Bà có khi nào cảm thấy phiền toái vì ngày nào cũng phải uống thuốc huyết áp không? Trong các câu hỏi trên, câu trả lời Có được 0 điểm, câu trả lời 0 được 1 điểm. Những người bệnh được coi là tuân thủ điều trị khi trả lời được ≥ 6 câu (tương đương ≥ 6 điểm). Thang đo Morisky đã được nhiểu nước trên thế giới sử dụng để đánh giá tuân thủ điều trị đối với bệnh nhân THA.
Thang đo này cũng đã được chuẩn hóa và áp dụng trong một số nghiên cứu tại Việt Nam để đánh giá tuân thủ điều trị THA. Một số nghiên cứu có thể kể đến như nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền năm 2018 về tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA tại Hải Dương năm 2018 (1). Nghiên cứu của Trần Công Trưởng năm 2018 đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại khoa nội tim mạch Bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 (23). Nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Hạnh về thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh THA điều trị ngoại trú tai Bệnh viện Kiến An, Hải Phòng năm 2020 (3).
Nghiên cứu của Đỗ Thị Hiến năm 2020 về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến 8 việc tuân thủ điều trị của người bệnh THA tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 (13). Đo lường tuân thủ điều trị thay đổi lối sống Học viên dựa vào những nghiên cứu trước đây của Đặng Thị Thu Huyền (1) và Đỗ Duy Tân (2) để đánh giá tuân thủ thay đổi lối sống của đối tượng nghiên cứu, việc tuân thủ được đo lường bằng các câu hỏi (D1, D3, D4, D5, D8, D10, D13). Đối tượng nghiên cứu được chia thanh 2 mức độ không tuân thủ và tuân thủ, ĐTNC được xem là tuân thủ thay đổi lối sống khi trả lời được ≥ 5 câu hỏi (tương đương ≥5 điểm), ĐTNC được xem là không tuân thủ khi trả lời < 5 câu hỏi (chi tiết tại phụ lục 1). Các câu hỏi phỏng vấn xoay quanh các nội dung về chế độ tập thể thao, việc theo dõi huyết áp, thay đổi chế độ ăn, không hút thuốc lá, hạn chế uống rượu/ bia.
Hậu quả, biến chứng của tăng huyết áp Những biến chứng của bệnh tăng huyết áp có thể để lại các di chứng nguy hiểm (suy thận, suy tim, tai biến mạch máu não) hoặc gây tử vong, làm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị ảnh hưởng, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội (24). - Đối với não: Tăng huyết áp có thể gay ra tai biến mạch máu não (thiếu máu não, nhũn não, xuất huyết não (25). - Đối với tim mạch: Tăng huyết áp có thể gây to tim, suy tim.